mở đầu sao chép được phiên mã thì 5 mARN mã hóa cho 5 protein cấu trúc của vi rút là N, M1, M2, G và L lần lượt được tổng hợp và cuối cùng là vùng đuôi không mã hóa gồm 70 nucleotide tận cùng ở phía đầu 5’ [30, 42].2: Sơ đồ cấu trúc hệ gien của vi rút dại 1. Khả năng và cơ chế gây bệnh. Khả năng gây bệnh. Vi rút dại có thể gây bệnh cho hầu hết các động vật máu nóng, bao gồm các động vật gần người như chó mèo, dơi, trâu, bò, ngựa, lợn, dê cừu.
và các động vật hoang dại như chồn, chồn hôi, chó sói, cáo, gấu, cầy mangu. Trong đó chó là nguồn truyền bệnh chủ yếu và nguy hiểm nhất. Ổ chứa vi rút TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dại ở các động vật hoang dại, lây cho động vật gần người từ đó lây truyền sang người thông qua da bị tổn thương (các vết cắn), thậm chí qua tiếp xúc với niêm mạc không hề tổn thương [16]. Cơ chế gây bệnh.
Cơ chế lan truyền bệnh dại trong tự nhiên giữa bầy động vật hoang dã là do sự di chuyển khi đi kiếm mồi hoặc do xuất nhập cảnh súc vật bị dại. Vi rút lây truyền chủ yếu qua nước bọt qua vết cắn của con vật bị dại [5]. Cơ chế lan truyền từ súc vật sang người: Do người hít phải khí có chứa vi rút dại hoặc bị súc vật bị dại cắn, cào, liếm trên da và niêm mạc. Ngoài ra sự lây truyền vi rút dại qua làm thịt, lột da hay tiêu thụ thịt sống bị nhiễm vi rút dại cũng là vấn đề đáng quan tâm, đặc biệt đối với nước có tập quán ăn thịt chó như nước ta [37].
Sự lây truyền từ người sang người: cho đến nay trên thế giới ghi nhận đã có 8 trường hợp lây truyền vi rút dại từ người sang người do cấy truyền giác mạc và nội tạng mà không được kiểm tra [42]. Sự lây truyền vi rút dại từ người này sang người khác qua vết cắn hoặc qua tiếp xúc với nước dãi của người bệnh đã được ghi nhận hai trường hợp ở Ethiopia bị lây nhiễm bệnh dại do tiếp xúc với người nhà bị lên cơn dại [37, 42]. Vi rút dại xâm nhập vào cơ thể người từ động vật bị dại qua vết cắn, liếm trên da bị tổn thương hoặc niêm mạc không bị tổn thương. Vi rút có ái tính với tế bào thần kinh, sau khi xâm nhập vào cơ thể nó tồn tại và nhân lên tại vết thương từ vài giờ cho đến vài tuần [16].
Sau đó nhanh chóng đi tới các đầu mút thần kinh cảm giác và vận động của hệ thần kinh ngoại biên rồi di chuyển tới hệ thần kinh trung ương theo hướng phản hồi của tế bào sợi acxon với tốc độ 0,3 mm/h, tại đó nó tiếp tục nhân lên. Phần cuống não bị nhiễm trước tiên, sau đó vùng dưới đồi và cuối cùng là phần vỏ não bị tổn thương. Tuy nhiên vào giai đoạn nhiễm cuối thì toàn bộ hệ thần kinh trung ương cũng như một số mô ngoài tuyến nước bọt cũng bị nhiễm vi rút. Khi nhân lên trong hệ thần kinh, vi rút dại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gây tổn thương não tuỷ ở các mức độ nặng nhẹ mà biểu hiện lâm sàng khác nhau [19].
Dịch tễ học bệnh dại 1. Tình hình bệnh dại trên thế giới và Việt Nam Bệnh dại phổ biến trên toàn cầu, từ châu Âu đến châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh trừ một số vùng không có bệnh dại như Vương Quốc Anh, Nhật Bản, vùng Bắc cực, Úc hay châu Đại Dương là những vùng đất “biệt lập”. Theo ước tính của TCYTTG hàng năm có khoảng 40.000 người chết vì bệnh dại, trong đó 99% số ca tử vong được thông báo từ các nước đang phát triển ở châu Phi, châu Á và vùng Nam Mỹ [16]. Tại châu Âu, bệnh dại chủ yếu xảy ra ở các nước CHLB Đức, Áo, Thuỵ Sĩ, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Ga Ry.
Các quốc gia này mặc dù thường xuyên liên tục thực hiện chương trình giám sát ổ dịch bệnh dại tự nhiên và dự phòng bằng vắc xin cho động vật hoang dã, súc vật nuôi, nhưng hàng năm vẫn có tới hàng chục nghìn người phải tới khám và phải sử dụng 1,2 triệu liều vắc xin tại các trung tâm phòng dại [16]. Ở châu Phi và châu Á, bệnh dại hiện tại vẫn là vấn đề y tế công cộng vô cùng nghiêm trọng. Trong đó chó là nguồn lây chủ yếu, hàng năm con số người chết vì bệnh dại rất cao. Tại Ấn Độ hàng năm có khoảng 3 triệu người phải tiêm phòng vắc xin dại, 92 – 95% là do chó cắn.
Ở Trung Quốc bệnh dại cũng khá nghiêm trọng, con số tử vong lên tới hàng nghìn ca trong một năm. Tình trạng bệnh dại cũng tương tự ở các nước Nepal, Srilanca, Băng La Đét, Indonesia và con số người chết vì bệnh dại hàng năm ở các nước Đông Nam Á chiếm tới 80% số ca tử vong vì bệnh này trên toàn thế giới [16]. Ở Việt Nam, bệnh dại chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông. 000 người phải tiêm phòng vắc xin.
Tỷ lệ tử vong do bệnh dại tính trên 100.000 dân, cao nhất ở giai đoạn 1991- 1995 là 0,43. Giai đoạn 1996-2003, thực hiện chỉ thị 92/TTg của Thủ tướng Chính phủ công tác phòng chống bệnh dại được quan tâm hơn nên tỷ lệ tử vong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giảm xuống còn 0,04/100. Tuy nhiên từ năm 2004 đến nay, tỷ lệ tử vong do bệnh dại có xu hướng gia tăng trở lại. Mỗi năm có khoảng 100 ca tử vong và trên nửa triệu người phải tiêm phòng mỗi năm, gây tổn thất to lớn về tính mạng, sức khỏe nhiều người.
Các tỉnh có số ca bệnh dại cao nhất từ 2004- 2012 là các tỉnh: Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Hà Giang, Nghệ An, Bình Thuận, Hà Nội (khu vực Hà Tây cũ), Đắc Lắc, Gia Lai, [1, 3]. Ổ chứa, nguồn truyền bệnh Hình 1. Ổ chứa vi rút dại ở các loài động vật hoang dại trên Thế giới. Ổ chứa thiên nhiên của vi rút dại thường ở động vật hoang dại máu nóng như sói, cáo, chồn, các loài dơi hút máu (Mỹ La Tinh), dơi ăn quả (Châu Âu).
Một số loài động vật gần người như trâu, bò, lợn, dê, cừu, ngựa cũng có thể bị mắc bệnh. Nguồn bệnh chủ yếu và nguy hiểm đối với người là chó (95 –98%) và mèo (2 – 3%) [5]. Vi rút dại cư trú chủ yếu ở hệ thần kinh, trong tuyến nước bọt và vi rút được đào thải theo nước dãi của con vật bị mắc bệnh, vi rút có mặt 3 – 5 ngày, tối đa 10 ngày trước khi có triệu chứng đầu tiên của bệnh. Chính vì vậy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà người ta chỉ định theo dõi con vật sau khi cắn người trong vòng 10 ngày [5, 10].
Các biện pháp phòng chống bệnh dại Ở các nước phát triển biện pháp phòng chống bệnh dại chủ yếu hướng tới các yếu tố truyền bệnh, ổ chứa virus dại ở các động vật máu nóng hoang dại như chồn, cáo, chó sói. Những chiến dịch chủng ngừa bằng mồi có chứa thức ăn trộn lẫn vaccine được rải vào các cánh rừng để gây miễn dịch cho động vật hoang dại, góp phần làm giảm nguy cơ truyền bệnh dại cho người [2]. Ở các nước đang phát triển, biện pháp phòng chống chủ yếu tập trung vào việc tăng cường sản xuất và nâng cao chất lượng vaccine, huyết thanh phòng bệnh dại, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục nhân dân về việc hạn chế nuôi chó, tiêm chủng thường xuyên cho chó, mèo, cách xử lý khi bị súc vật nghi dại cắn. Tăng cường công tác giám sát dịch tễ học bệnh dại để biết chính xác dịch tễ học bệnh dại và thực hiện tiêm phòng cho các đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm.
Đối với bệnh dại ở súc vật: thiết lập hệ thống giám sát trung tâm có trang thiết bị phòng thí nghiệm chẩn đoán, có đội ngũ chuyên gia theo dõi. Thành lập chương trình kiểm soát và hạn chế đàn chó lang thang, thực hiện tiêm phòng thường kỳ cho đàn chó. Thực hiện giám sát kiểm dịch Quốc tế khi xuất nhập các súc vật qua biên giới. Tăng cường hợp tác khoa học giữa các nước và khu vực có bệnh dại lưu hành [2].
Các loại vắc xin tế bào phòng bệnh dại sản xuất trên thế giới Vaccine phòng bệnh dại lần đầu tiên được nhà bác học Louis Pasteur và các cộng sự nghiên cứu sản xuất năm 1885. Cho đến nay đã có rất nhiều loại vaccine các thế hệ ra đời, được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới đã chứng tỏ hiệu quả bảo vệ khác nhau. Theo thống kê của TCYTTG các vaccine trên tế bào được sử dụng cho người gồm [2]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vaccine trên tế bào lưỡng bội người (1963) ( HDV) vaccine được sản xuất từ chủng PM trên tế bào lưỡng bội người WI-38 và được bất hoạt bởi propiolacton và tinh chế bằng ly tâm trong đệm sucrose gradient.
Hiện nay được sử dụng khá rộng rãi ở các nước phát triển. Vaccine nuôi cấy trên tế bào lưỡng bội bào thai khỉ (RDRV) vaccine được sản xuất từ chủng CVS - 11, gây nhiễm trên tế bào lưỡng bội phổi phôi khỉ, bất hoạt bằng propiolacton, hấp phụ với phosphat nhôm ở 40C. Vaccine sản xuất trên tế bào thận chuột đất vàng tiên phát Canada: dùng chủng CVS - 11 Liên xô cũ: dùng chủng Vnukovo-32, bất hoạt bằng tia cực tím, hiện nay vẫn đang được sản xuất rộng rãi ở cộng hoà liên bang Nga. Trung Quốc: dùng chủng Beijing, bất hoạt bằng formalin, hấp phụ với hydroxit nhôm, đông khô hoặc ở dạng nước và cho đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi ở nước này.
Vaccine sản xuất trên tế bào thận chó tiên phát: Dùng chủng PM gây nhiễm trên tế bào thận chó tiên phát, bất hoạt bằng -propiolacton cô đặc và tinh chế, thêm tá chất là nhôm phosphat, hiện nay được sản xuất tại Hà Lan với số lượng không nhiều. Vaccine sản xuất trên tế bào phôi gà tiên phát (KONDO): Dùng chủng Flury Hep gây nhiễm lên tế bào phôi gà tiên phát, bất hoạt bằng - propiolacton, cô đặc bằng siêu lọc, tinh chế bằng siêu ly tâm. Vaccine này có độ an toàn và hiệu lực cao, được sản xuất và sử dụng tại Nhật Bản từ 1965.