Luận văn thạc sĩ đặc điểm thành phần loài và phân bố của động vật nguyên sinh bộ tintinnida ở vịnh hạ long bái tử long quảng ninh 03

Luận văn thạc sĩ phân tích thành phần loài và phân bố động vật nguyên sinh bộ Tintinnida tại vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Quảng Ninh.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2014

91
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỘ TINTINIDA TRÊN THẾ GIỚI

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỘ TINTINIDA Ở VIỆT NAM

1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU

1.3.1. Vị trí địa lý và đặc trưng vùng nghiên cứu

1.3.2. Đặc điểm môi trường nước vùng nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

2.3.2. Phân vùng và chọn điểm thu mẫu

2.3.3. Phương pháp thu mẫu và cố định mẫu

2.3.4. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

2.3.4.1. Phân tích mẫu định tính
2.3.4.2. Phân tích mẫu định lượng

2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm thành phần loài của bộ Tintinnida ở vùng nghiên cứu

3.1.1. Thành phần loài của bộ Tintinnida

3.1.2. Dẫn liệu về một số loài thường gặp

3.1.2.1. Loài Leprotintinnus nordqvisti Kofoid & Campbell, 1929
3.1.2.2. Loài Leprotintinnus elongatus Skryabin and Al-Yamani, 2007
3.1.2.3. Loài Tintinnopsis tocantinensis Kofoid & Campbell, 1929
3.1.2.4. Loài Tintinnopsis karajacensis Brandt, 1906
3.1.2.5. Loài Tintinnopsis radix Brandt, 1907
3.1.2.6. Loài Tintinnopsis nucula (Fol) Brandt, 1906
3.1.2.7. Loài Tintinnopsis beroidea Hada, 1938
3.1.2.8. Loài Tintinnopsis mortensenii Schmidt, 1901
3.1.2.9. Loài Tintinnopsis bermudensis Brandt, 1906
3.1.2.10. Loài Tintinnopsis fimbriata Meunier, 1919
3.1.2.11. Loài Tintinnopsis rotundata Kofoid & Campbell, 1929
3.1.2.12. Loài Tintinnopsis schotti Brandt, 1906
3.1.2.13. Loài Stennosemella ventricosa Jörgensen, 1924
3.1.2.14. Loài Wangiella dicollaria Nei,1934
3.1.2.15. Loài Codonellopsis sp
3.1.2.16. Loài Metacylis pithos Skryabin and Al-Yamani, 2006
3.1.2.17. Loài Metacylis tropica Duran, 1957
3.1.2.18. Loài Favella ehrenbergii Jörgensen, 1924
3.1.2.19. Loài Amphorellopsis acuta Kofoid & Campbell, 1929
3.1.2.20. Loài Eutintinnus lususundae Kofoid & Campbell, 1929

3.2. Đặc điểm phân bố của bộ Tintinnida theo không gian ở vùng nghiên cứu

3.2.1. Đặc điểm phân bố theo không gian (mặt rộng)

3.2.2. Phân bố thành phần loài

3.2.3. Phân bố mật độ cá thể

3.2.4. Đặc điểm phân bố theo tầng nước

3.2.4.1. Phân bố số lượng loài
3.2.4.2. Phân bố mật độ cá thể

3.3. Biến động của bộ Tintinnida theo thời gian ở vùng nghiên cứu

3.3.1. Biến động theo mùa

3.3.2. Biến động số lượng loài

3.3.3. Biến động mật độ cá thể

3.3.3.1. Biến động theo tháng
3.3.3.2. Biến động theo ngày đêm

3.4. Một số nhận xét về mối tương quan giữa mật độ cá thể của Tintinnid với một số yếu tố môi trường và vi tảo ở vùng nghiên cứu

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Tóm tắt

I. Tổng quan về động vật nguyên sinh Tintinnida và vai trò của chúng

Động vật nguyên sinh thuộc bộ Tintinnida là một nhóm quan trọng trong hệ sinh thái thủy vực. Chúng đóng vai trò chủ chốt trong chuỗi thức ăn, tiêu thụ các chất dinh dưỡng hòa tan và vi khuẩn, đồng thời là nguồn thức ăn cho các động vật phù du lớn hơn. Nghiên cứu về bộ Tintinnida đã được thực hiện từ rất sớm, với nhiều công trình nổi bật từ thế kỷ XIX. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nghiên cứu này vẫn còn hạn chế.

1.1. Đặc điểm sinh học của động vật nguyên sinh Tintinnida

Tintinnida có hình dạng đa dạng, thường có vỏ giáp và cấu trúc cơ thể phức tạp. Chúng có khả năng sinh sản nhanh chóng và thích nghi tốt với môi trường sống. Các loài Tintinnida thường được phân loại dựa trên hình thái và cấu trúc của vỏ giáp.

1.2. Vai trò sinh thái của động vật nguyên sinh Tintinnida

Tintinnida là một phần quan trọng trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái biển. Chúng không chỉ tiêu thụ vi tảo mà còn cung cấp nguồn thức ăn cho các loài động vật lớn hơn như cá và tôm. Sự hiện diện của chúng có thể phản ánh tình trạng sức khỏe của môi trường nước.

II. Thách thức trong nghiên cứu động vật nguyên sinh Tintinnida ở Việt Nam

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về động vật nguyên sinh trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, việc nghiên cứu bộ Tintinnida vẫn còn nhiều thách thức. Thiếu hụt dữ liệu và tài liệu nghiên cứu là một trong những vấn đề lớn. Hơn nữa, sự biến đổi môi trường và ô nhiễm cũng ảnh hưởng đến sự phân bố của chúng.

2.1. Thiếu hụt tài liệu nghiên cứu về Tintinnida

Tại Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về bộ Tintinnida do các tác giả trong nước thực hiện. Điều này dẫn đến việc thiếu thông tin về thành phần loài và phân bố của chúng trong các hệ sinh thái biển.

2.2. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến động vật nguyên sinh

Ô nhiễm nước và biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống của các loài Tintinnida. Sự thay đổi trong chất lượng nước có thể làm giảm số lượng và đa dạng loài, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái.

III. Phương pháp nghiên cứu động vật nguyên sinh Tintinnida hiệu quả

Để nghiên cứu động vật nguyên sinh Tintinnida, cần áp dụng các phương pháp thu mẫu và phân tích hiện đại. Việc sử dụng công nghệ sinh học và phân tích hình thái học sẽ giúp xác định chính xác các loài và hiểu rõ hơn về sự phân bố của chúng.

3.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

Việc thu mẫu cần được thực hiện ở nhiều vị trí khác nhau trong khu vực nghiên cứu. Sử dụng các thiết bị thu mẫu chuyên dụng sẽ giúp đảm bảo chất lượng mẫu và độ chính xác trong phân tích.

3.2. Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

Sau khi thu mẫu, các mẫu cần được xử lý và phân tích trong phòng thí nghiệm. Việc sử dụng các phương pháp phân tích hình thái và phân loại sẽ giúp xác định chính xác các loài Tintinnida.

IV. Kết quả nghiên cứu và phân bố của động vật nguyên sinh Tintinnida

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng và phong phú của bộ Tintinnida ở vịnh Hạ Long. Các loài được phát hiện có sự phân bố khác nhau theo không gian và thời gian, phản ánh sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường.

4.1. Thành phần loài của bộ Tintinnida ở vịnh Hạ Long

Nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều loài Tintinnida mới cho khu vực này. Các loài thường gặp bao gồm Leprotintinnus nordqvisti và Tintinnopsis tocantinensis, cho thấy sự phong phú của hệ sinh thái.

4.2. Đặc điểm phân bố theo không gian và thời gian

Sự phân bố của các loài Tintinnida có sự biến động theo mùa và theo tầng nước. Điều này cho thấy sự thích nghi của chúng với các điều kiện môi trường khác nhau.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu động vật nguyên sinh Tintinnida

Nghiên cứu về động vật nguyên sinh bộ Tintinnida ở Việt Nam còn nhiều tiềm năng phát triển. Việc hiểu rõ hơn về chúng không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên sinh vật mà còn góp phần vào việc quản lý và bảo tồn môi trường biển.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu động vật nguyên sinh

Nghiên cứu động vật nguyên sinh không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hệ sinh thái mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc bảo vệ môi trường biển.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu Tintinnida

Cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về bộ Tintinnida, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. Việc hợp tác quốc tế trong nghiên cứu sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của các công trình nghiên cứu.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Động vật nguyên sinh là một hợp phần rất quan trọng trong quần xã động vật nổi nói riêng và trong các hệ sinh thái ven bờ nói chung. Chúng là một mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn của thủy vực, chúng tiêu thụ các chất dinh dưỡng hòa tan, mùn bã hữu cơ, vi khuẩn, tảo,… và tiếp đó chúng sẽ là nguồn thức ăn quan trọng cho Động vật phù du có kích thước lớn hơn, mà đặc biệt là ấu trùng của tôm, cua, cá,… Kể cả giai đoạn trưởng thành của một số loài cá ăn nổi, động vật ăn lọc,v. Trên thế giới việc nghiên cứu thành phần loài của trùng Lông bơi (bộ Tintinnida) đã được tiến hành từ rất sớm. Từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã có nhiều công trình công bố về thành phần loài của bộ Tintinnida, điển hình là các công trình của Fol (1881, 1883 và 1884) [7, 8, 40]; Daday (1886, 1887) [35, 36], Brandt (1896, 1906) [32, 33], Jorgensen (1924) [9], Kofoid và Campbell (1929) [15], Hada (1932, 1935, 1937, 1938, 1964) [10, 11, 12, 13, 14], Chia Chi Wang (1936) [27], … và gần đây nhất phải kể đến các công trình công bố của Yamaji (1973) [30], Chihara và Murano (1997) [5] và Al-Yamani và công sự (2011) [2].

Ở Việt Nam, nghiên cứu về trùng Lông bơi chỉ được thực hiện sau khi Viện Hải dương học Nha Trang được thành lập (1923) bởi các chuyên gia người nước ngoài. Đó là các công trình công bố của Rose (1926) [44], Dawydoff (1936) [43] và Shirota (1966) [25]. Cho đến nay ở nước ta chưa có một công trình nào được công bố do các tác giả người Việt Nam thực hiện. Ở miền Bắc Việt Nam nói chung và vịnh Hạ Long nói riêng đã có rất nhiều những công trình công bố về tài nguyên sinh vật, môi trường, địa chất, địa mạo,… được thực hiện bởi rất nhiều các đề tài, dự án do các viện nghiên cứu trong và ngoài nước thực hiện.

Nhưng cho đến nay, nghiên cứu về trùng Lông bơi ở khu vực này vẫn chưa được thực hiện và cũng chưa có bất kỳ một công bố nào về chúng. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những lý do trên, đề tài luận văn: “Đặc điểm thành phần loài và phân bố của Động vật nguyên sinh bộ Tintinnida ở vịnh Hạ Long – Bái Tử Long, Quảng Ninh” đã được đặt ra với mục đích: - Có được bộ số liệu về thành phần loài của bộ Tintinnida ở khu vực nghiên cứu, bổ xung thành phần loài cho khu hệ động vật phù du ở khu vực vịnh Hạ Long – Bái Tử Long nói riêng và khu hệ động vật phù du biển Việt Nam nói chung. - Tìm hiểu về đặc điểm phân bố cơ bản của bộ Tintinnida ở vịnh Hạ Long – Bái Tử Long. Luận văn này là một trong những nội dung chính của đề tài hợp tác quốc tế theo nghị định thư giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp: “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của muội than tới hệ vi sinh vật và môi trường biển vịnh Hạ Long nhằm đề xuất các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường biển” do TS.

Chu Văn Thuộc làm chủ nhiệm. Chủ nhiệm đề tài đã đồng ý cho phép sử dụng các kết quả nghiên cứu của đề tài để xây dựng nên bản luận văn này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả thu được chắc chắn vẫn còn có những khiếm khuyết, tác giả rất mong nhận được sự ủng hộ và góp ý chân thành của các thầy cô giáo, các anh chị và các bạn. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỘ TINTINNIDA TRÊN THẾ GIỚI Trên thế giới việc nghiên cứu ngành trùng Lông bơi Ciliophora nói chung và bộ Tintinnida nói riêng đã được tiến hành từ rất sớm. Rất nhiều các công trình nghiên cứu về phân loại và mô tả các loài thuộc bộ Tintinnida đã được công bố. Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, các công bố chủ yếu tập trung vào nghiên cứu thành phần loài và mô tả chi tiết các loài thuộc họ Tintinnidae trong đó điển hình là các tác giả: Hermann Fol (1881, 1883 và 1884) đã mô tả tổng cộng 15 loài ở Vịnh Villefranche, Pháp [7, 8, 40]; Eugen v, Daday (1886, 1887) mô tả 69 loài ở Vịnh Neapel thuộc Địa Trung Hải [35, 36]; Karl Brandt (1896, 1906, 1907) mô tả kèm hình vẽ rất tỉ mỉ của hơn 100 loài thuộc bộ Tintinnida ở biển Atlantic [32, 33, 34]; Jorgensen (1924) cũng đã mô tả 91 loài thuộc họ Tintinnidae ở biển Địa Trung Hải [9],v.

Từ mẫu vật thu được trong chuyến khảo sát Agassiz tới vùng nhiệt đới phía Đông Thái Bình Dương (1904 – 1905), hai tác giả Kofoid và Campbell (1929) đã công bố tổng số 697 loài, 51 giống và 11 họ thuộc phân bộ Tintinnoinea ở cả môi trường nước ngọt và biển [15]. Trong đợt khảo sát ở rạn san hô Great Barrier Reef (Úc), với các trạm quan trắc hàng tuần, 1 trạm nằm ở mũi Bedford, 1 trạm nằm ở đảo Lizard và 3 trạm nằm ngoài rạn trong khoảng thời gian từ tháng 7/1928 đến tháng 7/1929, Marshall (1934) đã đưa ra danh mục và mô tả 56 loài Tintinnid thuộc 24 giống và 12 họ ở khu vực biển san hô này [16]. Từ chuyến thám hiểm Carnegie được thực hiện trên tàu Carnegie kéo dài 376 ngày từ ngày 11/5/1928 đến ngày 28/10/1929 với tổng quãng đàng di chuyển 44.877 dặm, đi vòng quanh Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, thu mẫu ở các tâng nước khác nhau trên tổng số 162 trạm thu mẫu. Đến năm 1942, Campbell đã công bố danh mục và mô tả chi tiết 128 loài, 26 giống và 13 họ thuộc bộ Tintinnida ở hai vùng biển này [4].

3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Châu Á, nghiên cứu về đối tượng này muộn hơn so với các khu vực khác trên thế giới. Đầu tiên có thể kể đến là cụm công trình công bố của Yoshine Hada từ năm 1932 đến năm 1938 cụ thể như sau: Năm 1932 ông đã phát hiện 23 loài thuộc 8 họ trong đó có 7 loài mới ở khu vực biển Okhotsk và vùng lân cận [10]; năm 1935 phát hiện 39 loài trong đó có 2 loài mới gặp ở các khu vực biển Đông (South china sea), Java, Celebes và Sulu theo hải trình từ Nhật Bản đến phía Đông Ấn Độ Dương [11]; năm 1937 mô tả 50 loài ở vịnh Akkeshi, Nhật Bản, đã bổ xung 11 loài mới cho khoa học và 15 loài chưa từng nhận diện ở Nhật Bản [12]; năm 1938 mô tả 101 loài ở khu vực nhiệt đới phía tây Thái Bình Dương (có 7 loài mới) [13]. Tiếp đến là công trình của Nie (1934) mô tả 17 loài thuộc 7 họ 5 giống ở vịnh Amoy, Trung Quốc trong chuyến khảo sát từ 8/7 đến 20/8/1933 ở vịnh này [19]. Chia Chi Wang (1936) đã phát hiện 15 loài (có 5 loài mới) thuộc phân bộ Tintinnoinea ở vịnh Pê- Hai, Trung Quốc [27].

Đến năm 1947, Nie và Cheng đã mô tả 45 loài ở quanh đảo Hải Nam trong đó ghi nhận được 1 giống mới (Marshallia) và 10 loài mới cho khoa học trong đợt khảo sát kéo dài 2 năm 1933-1934 ở nhiều địa điểm khác nhau quanh đảo Hải Nam, Trung Quốc [20]. Từ thập niên 50 của thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX, các công trình công bố về mô tả loài thuộc bộ Tintinnida có phần ít hơn giai đoạn trước. Một số công bố có thể kể đến là công trình nghiên cứu của Chiang Sieh Chih (1956) mô tả 21 loài Tintinnid ở nước ngọt thuộc 2 tỉnh Kiangsu và Anhui, Trung Quốc, trong đó có 15 loài mới [24]. Cosper (1972) mô tả 21 loài trong hệ thống vịnh St.

Andrew, Florida Mỹ, trong đó có 8 loài trước đó chưa được công bố ở khu vực này và 2 loài chưa được xác định tên thuộc giống Metacylis đã được mô tả [6]. Mitsuo Chihara và Masaaki Murano (1997) mô tả 132 loài ở Nhật Bản [5]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những năm đầu thế kỷ XXI đến nay, công trình đầu tiên có thể kể đến là của Balkis (2009) trong đợt điều tra khảo sát theo mùa tại 3 trạm ở vịnh Edremit Thổ Nhĩ Kỳ, ông đã công bố được 16 loài thuộc 10 giống 7 họ [3]. Gần đây nhất là công bố của Al-Yamani và công sự (2011), mô tả 73 loài, 24 giống và 11 họ ở khu vực ven biển Kuwait [2] và Zaid và Hellal (2012) đã công bố 92 loài thuộc 30 giống, 13 họ ở ven bờ biển đỏ Hurghada, Ai Cập [31].

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỘ TINTINNIDA Ở VIỆT NAM Ở Việt Nam, nghiên cứu về trùng Lông bơi chỉ được thực hiện sau khi Viện Hải dương học Nha Trang được thành lập (1923) bởi các chuyên gia người nước ngoài. Đó là các công trình công bố của Rose (1926) với 6 loài ở vịnh Nha Trang [44]; Dawydoff (1936) công bố 12 giống cũng ở khu vực này [43]. Công trình đáng chú ý nhất ở Việt Nam cho đến nay là của Shirota (1966), dựa vào quá trình thu thập mẫu ở các vực nước ven bờ từ Huế vào tới mũi Hà Tiên (Kiên Giang) ông đã phân tích và công bố 72 loài Tintinnid kèm theo các hình vẽ minh họa của chúng [25]. Nhìn chung, cho đến nay ở Việt Nam nói chung và miền Bắc Việt Nam nói riêng chưa có bất kỳ một công bố nào về mô tả thành phần loài cũng như phân bố của bộ Tintinnida do các tác giả Việt Nam thực hiện.

Chính vì vậy, đây sẽ là nghiên cứu đầu tiên về thành phần loài và phân bố của bộ Tintinnida ở miền Bắc Việt Nam. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý và đặc trƣng vùng nghiên cứu Vịnh Hạ Long nằm ở Đông Bắc Việt Nam, từ 20°43' đến 21°09' độ vĩ Bắc và từ 106°56' đến 107°37' độ kinh Đông. Cách thủ đô Hà Nội khoảng 150km về phía Đông – Đông Bắc.

Toàn khu vực có diện tích khoảng 1.553 km2, bao gồm gần 2.000 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, phần lớn là đảo đá vôi. Vùng lõi của vịnh có diện tích 334 km2 với 775 hòn đảo (hình 2. Đây là thuỷ vực tương đối kín, ít có sự trao đổi nước với bên ngoài mặc dù biên độ dao động của thuỷ triều là tương đối lớn. Địa hình của khu vực vịnh Hạ Long – Bái Tử Long khá phức tạp với rất nhiều các đảo lớn nhỏ phân bố rải rác.

Vì vậy, mặc dù là vũng nước mở thông ba mặt với 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vịnh Bắc Bộ nhưng có nhiều đảo đá vôi che chắn phía ngoài nên đây là vực nước khá yên tĩnh, sự trao đổi nước với bên ngoài cũng bị hạn chế phần nào [1].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ