Khóa luận: Nghiên cứu đặc điểm lâm học Cây Nghiến tại Yên Lạc, Phú Lương

Khóa luận nghiên cứu đặc điểm lâm học, sinh thái và hình thái loài cây Nghiến (Excentrodendron tonkinensis) tại Phú Lương, Thái Nguyên và giải pháp bảo tồn.

Chuyên ngành

ST&BTĐDSH

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Cây Nghiến tại Phú Lương Thái Nguyên

Cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) là một loài cây quý hiếm được phát hiện và nghiên cứu tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Loài cây này có giá trị kinh tế và sinh thái cao, được cộng đồng địa phương khai thác và sử dụng trong nhiều mục đích khác nhau. Nghiên cứu đặc điểm lâm học cây Nghiến giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tiềm năng phát triển và bảo tồn loài cây này tại vùng đất Phú Lương. Thông qua các khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu, chúng ta có thể xác định được các đặc trưng nổi bật của loài và điều kiện sống của nó.

1.1. Định nghĩa và phân loại Cây Nghiến gân ba

Cây Nghiến gân ba thuộc họ Dipterocarpaceae, là một loài cây gỗ quý hiếm có giá trị cao. Loài này được đặc trưng bởi những đặc điểm hình thái độc đáo như thân thẳng, lá có gân ba nổi bật, hoa và quả với cấu trúc đặc biệt. Tên khoa học Excentrodendron tonkinensis phản ánh nguồn gốc và đặc điểm phân bố của loài cây này tại Đông Bắc Á.

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu lâm học Cây Nghiến

Nghiên cứu đặc điểm lâm học cây Nghiến có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững tài nguyên rừng tại Phú Lương. Việc hiểu biết sâu sắc về sinh thái, hình thái và nhu cầu môi trường của loài giúp xây dựng chiến lược bảo vệ và phát triển hiệu quả.

II. Đặc Điểm Hình Thái của Cây Nghiến

Đặc điểm hình thái là những nét nổi bật giúp nhận biết cây Nghiến gân ba tại Phú Lương, Thái Nguyên. Loài cây này có thân mục đục, thẳng với chiều cao và đường kính biến thiên tuỳ theo điều kiện sinh trưởng. Lá của cây Nghiến có hình dạng đặc trưng với gân ba rõ ràng chạy dọc theo lá, tạo nên vẻ ngoài độc đáo. Hoa và quả của loài cây này cũng thể hiện những đặc điểm riêng biệt trong cấu trúc và hình thái. Những đặc điểm này giúp phân biệt cây Nghiến với các loài cây khác trong cùng vùng phân bố.

2.1. Đặc điểm thân cành và vỏ cây

Thân cây Nghiến mục đục, thẳng với vỏ có màu xám nâu, bề mặt có những rãnh dọc. Cành của loài cây này mọc có quy luật, tạo tán cây tương đối rộng. Vỏ cây có độ dày vừa phải, phục vụ tốt cho các chức năng cơ chế của cây.

2.2. Đặc điểm lá hoa quả và hạt

Lá cây Nghiến mọc xoay chiều, có gân ba nổi bật là đặc điểm riêng biệt. Hoa mọc thành chùm nhỏ, màu trắng hoặc vàng nhạt. Quả cây Nghiến có dạng hạt cánh, chứa hạt bên trong với khả năng nảy mầm tương đối cao.

III. Đặc Điểm Sinh Thái của Cây Nghiến Tại Phú Lương

Đặc điểm sinh thái cây Nghiến tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương cho thấy loài cây này thích ứng tốt với điều kiện tự nhiên địa phương. Vị trí phân bố của cây nằm ở những khu vực rừng tự nhiên, nơi có độ cao thích hợp và khí hậu ôn hòa. Khí hậu khu vực Phú Lương có hai mùa rõ rệt, mưa tập trung vào mùa hè, với nhiệt độ trung bình hàng năm phù hợp cho sự sinh trưởng của loài. Đất tại vùng phân bố của cây Nghiến thường là những đất núi, có độ ẩm và chất hữu cơ cao, tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển của loài.

3.1. Vị trí và địa hình nơi phân bố cây Nghiến

Cây Nghiến phân bố tại các khu vực có độ cao từ 500-1000m so với mực nước biển. Địa hình khu vực Phú Lương là những núi đổi, sườn dốc với độ dốc từ vừa đến dốc. Vị trí này cung cấp điều kiện thoát nước tốt và ánh sáng phù hợp cho sự sinh trưởng.

3.2. Điều kiện khí hậu và đất nơi cây Nghiến phát triển

Khí hậu tại Phú Lương có nhiệt độ trung bình 20-24°C, lượng mưa 1500-2000mm/năm, tạo điều kiện lý tưởng. Đất nơi cây Nghiến phân bố là loại đất núi xám, có độ pH từ 5.0-6.0, giàu chất hữu cơ từ lớp mục nát dày.

IV. Biện Pháp Bảo Tồn và Phát Triển Cây Nghiến Tại Phú Lương

Bảo tồn cây Nghiến gân ba là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ tài nguyên rừng quý hiếm tại Phú Lương, Thái Nguyên. Các biện pháp bảo tồn cần được thực hiện đồng bộ từ nhiều hướng, bao gồm bảo vệ vùng phân bố tự nhiên, hạn chế khai thác quá mức, và khôi phục những khu vực bị suy thoái. Phát triển cây Nghiến thông qua trồng nhân tạo tại những địa điểm thích hợp sẽ giúp tăng trữ lượng và giá trị kinh tế. Cần tăng cường công tác nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về giá trị và tầm quan trọng của loài cây này.

4.1. Các biện pháp bảo tồn in situ và ex situ

Bảo tồn in-situ tập trung vào bảo vệ các khu vực rừng tự nhiên nơi cây Nghiến phân bố, thiết lập khu bảo tồn, giảm áp lực khai thác. Bảo tồn ex-situ bao gồm thu thập giống cây, bảo lưu gen, và nhân giống nhân tạo để tăng số lượng cây.

4.2. Chiến lược phát triển bền vững và khai thác hợp lý

Phát triển bền vững cây Nghiến cần dựa trên nguyên tắc khai thác hợp lý, không vượt quá khả năng tái sinh của loài. Cần xây dựng quy hoạch lâm nghiệp khoa học, đào tạo kỹ năng cho người dân, và liên kết nhuận lợi từ khai thác với công tác bảo tồn.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay ngày càng thay đổi theo chiều hướng tiêu cực. Nguồn tài nguyên rừng của chúng ta hiện nay đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng hiện nay một phần là do hoạt động khai thác một cách bừa bãi, cùng với việc sử dụng tài nguyên lãng phí không bền vững, và do công tác quản lý còn nhiều hạn chế của các cấp chính quyền địa phương. Tài nguyên rừng đang bị giảm theo từng ngày, diện tích rừng tự nhiên đang ngày càng bị thu hẹp về diện tích, suy giảm chất lượng.

Rừng nghèo, đất trống đồi trọc tăng lên do hoạt động khai thác chặt phá, đốt nương làm rẫy, sử dụng không hợp lý và không có kế hoạch trồng rừng phục hồi. Gỗ và lâm sản ngoài gỗ đang dần cạn kiệt, các loài cây gỗ có giá trị đã và đang bị khai thác một cách triệt để, có loài không còn cây mẹ để gieo giống và mất dần khả năng tái sinh tự nhiên. Trước thực tế về nguy cơ mất rừng ngày và nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng, cũng như vấn đề phòng hộ và bảo vệ môi trường ngày càng trở nên cấp thiết hơn, Nhà nước ta trong những năm qua với sự hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế đã đầu tư khá lớn vật tư, tiền vốn, nhân lực để trồng, phục hồi và phát triển rừng. Song công tác của chúng ta mới chỉ chú ý đến số lượng mà chưa chú ý đến chất lượng, một số loài chưa được quan tâm đúng mức, công tác phối hợp còn chồng chéo làm cho năng suất và hiệu quả công việc thấp.

Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis (Gagnep.) Chang & Miau) là loại gỗ thuộc nhóm IIA. Cây Nghiến gân ba sinh trưởng chủ yếu tại các ngọn núi đá xen lẫn đất. Với các loại cây có đường kính 80cm – 100cm, tuổi 2 đời của nó cũng lên đến 200 - 300 năm. Đây là loài cây gỗ có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao.

Vì quý hiếm, khó trồng nhân tạo, thời gian cây sinh trưởng rất lâu nên thời gian qua đã bị tàn khá, khai thác trái phép cây gỗ Nghiến gân ba bất chấp lệnh cấm. Hiện nay cây gỗ Nghiến gân ba chỉ còn rất ít ở một số vùng rừng trên núi đá vôi, chủ yếu tập trung ở các khu bảo tồn thiên nhiên như: Hữu Liên, Ba Bể, Phượng Hoàng, …. Và còn rải rác ở một số huyện của các tỉnh miền núi phía Bắc như Huyện Phú Lương, Huyện Võ Nhai (Tỉnh Thái Nguyên), Huyện Ba Bể (Tỉnh Bắc Kạn) …. Phú Lương là huyện miền núi, nằm ở vùng phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên là nơi phân bố tự nhiên của loài Nghiến gân ba.

Tuy nhiên, chúng thường phân bố rải rác với số lượng không nhiều do vậy việc tổ chức quản lý bảo vệ thường gặp nhiều khó khăn và kiểm soát dẫn tới suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Do cây Nghiến hiện nay là đối tượng cần được nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển. Đặc biệt trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học, Nghiến gân ba được xác định là một loài có tính nguy cấp cần được bảo tồn. Việc nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của cây Nghiến gân ba là một yêu cầu bức thiết, làm cơ sở đề xuất cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, nhằm bảo vệ và phát triển loài cây này, được sự nhất trí của Khoa Lâm nghiệp, ban giám hiệu nhà trường và thầy giáo hướng dẫn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”.

Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được thực trạng phân bố và một số đặc điểm lâm học của cây Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn loài cây Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của khóa luận - Ý nghĩa khoa học: Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và sinh trưởng của cây Nghiến; Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn; Biết được tầm quan trọng của loài thực vật quý hiếm như cây Nghiến nói riêng, và các loài cây quý hiếm sống kèm cây Nghiến nói chung; Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay; Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về loài cây Nghiến gân ba. - Ý nghĩa thực tiễn: Cơ sở để thực hiện nghiên cứu loài Nghiến gân ba làm cơ sở đề xuất hướng bảo tồn loài và giám sát đa dạng sinh học.

4 Phần 2| TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng. Quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường, chặt phá rừng là những nguyên nhân gây suy giảm diện tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, nhiều loài động thực vật quý đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy cần có những hành động cụ thể của cộng đồng đó là các chương trình, dự án để bảo tồn một cách kịp thời.

Trong đó Nghiến là loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao, đã và đang bị khai thác mạnh dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng chính trong tương lai gần vì thế chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể về đặc tính sinh học của loài này từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn. Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng.

Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng đã công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. 5 Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và đa dạng sinh học có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Cây Nghiến gân ba tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai thác rất mạnh (trước đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và làm tà vẹt, hiện nay dùng làm thớt chủ yếu xuất khẩu trái phép qua biên giới). Số cá thể trưởng thành đã bị chặt phá > 50%.

Tuy có ở các Vườn quốc gia: Ba Bể, Vườn quốc gia Phia Đén – Phia oắc, Vườn quốc gia Xuân Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, … và các Khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò - Hang Kia, Hữu Liên, Na Hang, Bắc Mê, Bát Đại Sơn, Phong Quang, Tây Côn Lĩnh, Kim Hỷ, Nam Xuân Lạc, Thần Sa - Phượng Hoàng,… nhưng tại những nơi đó vẫn bị khai thác trộm. Loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao ngoài thiên nhiên. Đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến hành khoá luận tốt nghiệp này. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2.

Trên thế giới 2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cây Từ lâu trên thế giới, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cây trong đó có đặc điểm hình thái và sinh học đã được thực hiện ở rất nhiều nơi. Đây được coi là bước đầu tiên, làm tiền đề để nghiên cứu các môn khoa học khác có liên quan. Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây đến tiến hành.

Những nghiên cứu này đầu tiên tập chung vào những mô tả phân loại các loài các nhóm loài, đây có thể được coi là những nền móng đầu tiên của ngành nghiên cứu thực vật thế giới, có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học loài cây của các quốc gia khác như: Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Austraylia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và vùng trung tâm Ấn Độ 6 (1874), Thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872 - 1897), Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia ( 1892 - 1925), Thực vật chí Hải Nam ( 1972 – 1977). Sự ra đời của các tài liệu này đã góp phần làm tiền đề cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại và đánh giá tính đa dạng sinh học ở các vùng miền khác nhau. Giúp cho công tác nghiên cứu khoa học được diễn ra thuận lợi và hiệu quả hơn. Nhà khoa học người Nga, Tolmachop A.I đã đưa ra nhận định số loài ở hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài.I quan điểm rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa mặt địa lý”.

Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cây làm đề xuất biện pháp kĩ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo đó các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng cụ thể trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó. Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm về sinh thái học thực vật nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa các loài thực vật với nhau và giữa chúng với điều kiện nơi mọc, các phương pháp nghiên cứu đó đã được trình bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen, D.Lacher (1987) các tác giả đã chỉ rõ sự thích nghi của các loài với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, nhịp điệu khí hậu.

Học thuyết về hệ sinh thái, trên cơ sở các thuật ngữ ngữ về hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ