Đặc điểm kiến tạo địa động lực bể Cửu Long và Nam Côn Sơn và triển vọng dầu khí

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus đối sách đặc điểm kiến tạo địa động lực bể cửu long và nam côn sơn và triển vọng dầu khí liên, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Địa Chất Dầu Khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

114
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, CẤU TRÚC KIẾN TẠO BỂ CỬU LONG

1.1. Vị trí kiến tạo và lịch sử nghiên cứu bể Cửu Long

1.1.1. Vị trí kiến tạo

1.1.2. Lịch sử nghiên cứu

1.1.3. Phân tầng cấu trúc

1.1.4. Phân vùng cấu trúc

1.1.5. Hệ thống đứt gãy

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, CẤU TRÚC KIẾN TẠO BỂ NAM CÔN SƠN

2.1. Vị trí kiến tạo và lịch sử nghiên cứu bể Cửu Long

2.1.1. Vị trí kiến tạo

2.1.2. Lịch sử nghiên cứu

2.1.3. Phân tầng cấu trúc

2.1.4. Phân vùng cấu trúc

2.1.5. Hệ thống đứt gãy

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp địa vật lý

3.2. Hệ phương pháp nghiên cứu cấu trúc kiến tạo và lịch sử tiến hóa địa chất

3.3. Phương pháp đánh giá tiềm năng dầu khí

4. CHƯƠNG 4: ĐỐI SÁNH ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO ĐỊA ĐỘNG LỰC BỂ NAM CÔN SƠN VÀ CỬU LONG

4.1. Các giai đoạn phát triển địa chất của bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

4.1.1. Bể Cửu Long

4.1.2. Bể Nam Côn Sơn

4.2. Đối sánh đặc điểm cấu trúc kiến tạo địa động lực bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

4.3. Đối sánh về vị trí địa lý

4.4. Đối sánh về lịch sử tiến hóa

4.5. Đối sánh về địa tầng

4.6. Đối sánh về đặc điểm cấu trúc kiến tạo địa động lực

5. CHƯƠNG 5: TRIỂN VỌNG DẦU KHÍ BỂ CỬU LONG VÀ NAM CÔN SƠN

5.1. Bể Cửu Long

5.1.1. Các tích tụ Hydrocacbon

5.1.2. Hệ thống dầu khí

5.1.3. Triển vọng dầu khí

5.2. Bể Nam Côn Sơn

5.2.1. Các tích tụ hydrocarbon

5.2.2. Hệ thống dầu khí

5.2.3. Triển vọng dầu khí

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm kiến tạo địa động lực bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

Bể Cửu Long và bể Nam Côn Sơn là hai bể trầm tích quan trọng tại Việt Nam, nổi bật với tiềm năng dầu khí lớn. Đặc điểm kiến tạo địa động lực của hai bể này không chỉ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các mỏ dầu khí mà còn quyết định đến khả năng khai thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này. Việc nghiên cứu và hiểu rõ về cấu trúc địa chất, lịch sử hình thành và các yếu tố địa động lực là rất cần thiết để tối ưu hóa công tác tìm kiếm và khai thác dầu khí.

1.1. Đặc điểm địa chất bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

Bể Cửu Long nằm ở phía Nam Việt Nam, có hình dạng bầu dục và được hình thành chủ yếu từ các trầm tích Kainozoi. Trong khi đó, bể Nam Côn Sơn có cấu trúc phức tạp hơn với nhiều hệ thống đứt gãy. Cả hai bể đều chứa đựng các tầng đá mẹ có khả năng sinh dầu cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các mỏ dầu khí.

1.2. Lịch sử nghiên cứu và phát triển bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

Lịch sử nghiên cứu bể Cửu Long bắt đầu từ những năm 1960, với nhiều công ty nước ngoài tham gia khảo sát và thăm dò. Bể Nam Côn Sơn cũng không kém phần quan trọng, với nhiều phát hiện đáng chú ý về dầu khí. Việc nghiên cứu liên tục đã giúp nâng cao hiểu biết về tiềm năng dầu khí của hai bể này.

II. Vấn đề và thách thức trong khai thác dầu khí bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

Mặc dù bể Cửu Long và Nam Côn Sơn có tiềm năng dầu khí lớn, nhưng việc khai thác vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như độ sâu của các mỏ, sự phức tạp trong cấu trúc địa chất và các yếu tố môi trường đều ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác. Đặc biệt, việc bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác là một thách thức lớn mà ngành dầu khí phải đối mặt.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến khai thác dầu khí

Các yếu tố như độ sâu, áp lực địa chất và tính chất của đá mẹ đều ảnh hưởng đến khả năng khai thác dầu khí. Đặc biệt, bể Cửu Long có nhiều mỏ nằm ở độ sâu lớn, điều này đòi hỏi công nghệ khai thác tiên tiến và chi phí cao.

2.2. Thách thức về môi trường trong khai thác dầu khí

Khai thác dầu khí có thể gây ra ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển. Do đó, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm kiến tạo địa động lực bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

Để nghiên cứu đặc điểm kiến tạo địa động lực của hai bể này, các phương pháp địa vật lý và địa hóa được áp dụng. Việc sử dụng công nghệ hiện đại trong khảo sát địa chất giúp thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy. Các phương pháp này không chỉ giúp xác định cấu trúc địa chất mà còn đánh giá tiềm năng dầu khí của các mỏ.

3.1. Phương pháp địa vật lý trong nghiên cứu

Phương pháp địa vật lý như khảo sát địa chấn và từ trường được sử dụng để xác định cấu trúc địa chất. Các dữ liệu thu thập được từ các phương pháp này giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quan về bể Cửu Long và Nam Côn Sơn.

3.2. Phương pháp địa hóa trong đánh giá tiềm năng dầu khí

Phương pháp địa hóa giúp phân tích thành phần hóa học của các mẫu đá và trầm tích. Qua đó, đánh giá khả năng sinh dầu và tiềm năng khai thác của các mỏ dầu khí trong bể Cửu Long và Nam Côn Sơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

Các nghiên cứu về bể Cửu Long và Nam Côn Sơn đã mang lại nhiều kết quả quan trọng trong việc xác định tiềm năng dầu khí. Những phát hiện này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả khai thác mà còn tạo điều kiện cho việc phát triển công nghệ khai thác dầu khí tại Việt Nam. Các ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu đã góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành dầu khí.

4.1. Kết quả nghiên cứu và phát hiện mới

Nhiều mỏ dầu khí mới đã được phát hiện trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt là tại bể Cửu Long. Những phát hiện này đã mở ra cơ hội mới cho ngành dầu khí Việt Nam.

4.2. Ứng dụng công nghệ trong khai thác dầu khí

Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong khai thác dầu khí đã giúp nâng cao hiệu quả và giảm thiểu tác động đến môi trường. Các công nghệ mới cũng giúp tối ưu hóa quy trình khai thác và giảm chi phí.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của bể Cửu Long và Nam Côn Sơn

Bể Cửu Long và Nam Côn Sơn có tiềm năng dầu khí lớn, nhưng việc khai thác vẫn gặp nhiều thách thức. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ và các phương pháp nghiên cứu hiện đại, triển vọng tương lai của hai bể này là rất khả quan. Việc tiếp tục nghiên cứu và đầu tư vào công nghệ khai thác sẽ giúp tối ưu hóa nguồn tài nguyên dầu khí, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành dầu khí Việt Nam.

5.1. Triển vọng phát triển ngành dầu khí tại bể Cửu Long

Bể Cửu Long được dự đoán sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp dầu khí chính cho Việt Nam trong tương lai. Các nghiên cứu và phát hiện mới sẽ mở ra nhiều cơ hội cho ngành dầu khí.

5.2. Tương lai của bể Nam Côn Sơn trong ngành dầu khí

Bể Nam Côn Sơn cũng có triển vọng phát triển mạnh mẽ, với nhiều mỏ dầu khí tiềm năng chưa được khai thác. Việc đầu tư vào nghiên cứu và công nghệ sẽ giúp khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus đối sách đặc điểm kiến tạo địa động lực bể cửu long và nam côn sơn và triển vọng dầu khí liên quan

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu cho công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí bể Cửu Long là Công ty Mandrel (năm 1969) tiến hành khảo sát địa chấn theo mạng lưới tuyến 30x50 km. Sau đó công ty Mobil tiếp tục đan dày mạng lưới tuyến khảo sát địa chấn với tỷ lệ 8x8 km và 4x4 km trên khu vực cấu tạo Bạch Hổ và lân cận. Trên cơ sở kết quả xử lý và giải đoán các tài liệu địa chấn thu được, năm 1974 Công ty Mobil quyết định 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoan giếng khoan đầu tiên trên cấu tạo Bạch Hổ, đó là giếng khoan BH-IX và cũng chính từ giếng khoan đầu tiên này, Mobil đã phát hiện được dầu thô trong trầm tích Oligocen và Miocen sớm với lưu lượng 2400 thùng/ngày. Cũng trong thời gian này, Công ty Retty Ray đã tiến hành khảo sát địa chấn chi tiết hơn theo mạng lưới tuyến 2x2 km trên khu vực cấu tạo Bạch Hổ.

Từ tháng 4/1975 hai công ty Mobil và Retty Ray phải ngưng công việc tìm kiếm và thăm dò của họ. Như vậy, từ năm 1969 đến năm 1975, công tác tìm kiếm thăm dò ở bể Cửu Long được triển khai chủ yếu là địa vật lý trên mặt. Chỉ có một giếng khoan BH-IX được thực hiện song lại bị bỏ dở. Trong giai đoạn này, chưa có bất kỳ tài liệu địa hoá nào liên quan đến giếng khoan BH-IX được giữ lại mà chỉ có một báo cáo về công tác khoan của giếng BH-IX được ghi chép đến tháng 3/1975.

Trong tài liệu cũng có nói đến sự xuất hiện của khí trong quá trình khoan. Như vậy công tác nghiên cứu địa hoá cho giếng khoan đầu tiên này trong giai đoạn trước năm 1975 coi như chưa có. Giai đoạn sau năm 1975 Bắt đầu từ năm 1976, Công ty Địa vật lý CGG của Pháp phối hợp với Tổng cục Dầu khí Việt Nam tiến hành khảo sát địa chấn đồng bằng sông Cửu Long và vùng biển nông để liên kết địa chấn giữa lô 9 và lô 16 với đất liền. Từ kết quả liên kết trên, Tổng cục Dầu khí Việt Nam đã cho tiến hành khoan thăm dò hai giếng CL- IX và HG-IX ở đồng bằng sông Cửu Long.

Kết quả hai giếng khoan này cho phép các nhà địa chất dầu khí Việt Nam theo dõi được sự thay đổi trong lát cắt trầm tích Đệ tam từ đất liền đến khu vực trung tâm của bể Cửu Long. Kết quả phân tích mẫu từ hai giếng khoan này cho thấy trầm tích Đệ tam rất nghèo vật chất hữu cơ (TOC chỉ dao động từ 0.4%) và hầu như không có khả năng sinh dầu (S2: 0.5- 1kg/T, HI: 80- 160mg/g, Tmax: 410-4200C). Tài liệu đánh giá địa hoá cho hai giếng khoan này chỉ dừng lại ở đây với những kết quả sơ bộ như vậy. Tuy nhiên, đến năm 1970, Công ty Deminex trúng thầu ở lô 15 và công ty tiến hành công tác khảo sát địa chấn theo mạng lưới 3.5 km và đã thu được một số kết quả.

Sau đó Deminex đã cho khoan liền 4 giếng khoan thăm dò trên các cấu tạo Trà Tân (15-G-IX), Sông Ba (15- 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com B-IX), Cửu Long (15-C-IX) và Đồng Nai (15-Đ-IX). Qua công tác thử vỉa, Deminex đã phát hiện ra dầu thô tại độ sâu 2307-2313m ở giếng khoan 15-G-IX nhưng với lưu lượng quá nhỏ. Các giếng khoan còn lại có tìm thấy các dấu hiệu của Hydrocarbon nhưng không đáng kể, vì vậy năm 1981, Công ty Deminex đã ngừng công việc tìm kiếm thăm dò tại lô 15 và rút khỏi Việt Nam. Tuy nhiên tài liệu của Deminex về công tác địa hoá được triển khai một cách rất bài bản, từ khâu chọn mẫu cho đến khâu phân tích.

Toàn bộ mẫu được phân tích địa hoá tại Robertson Research (Singapore) và tại phòng thí nghiệm địa hoá của công ty Deminex (Tây Đức). Theo Leythaeuser, người đã tổng hợp kết quả từ 4 giếng khoan thì đá mẹ ở khu vực này bao gồm các trầm tích Oligocen và Miocen có chứa vật chất hữu cơ dao động từ trung bình đến tốt, tuy nhiên mức độ trưởng thành của đá mẹ chỉ đạt giá trị ở mức độ thấp đến vừa, vì vậy khả năng sinh thành Hydrocarbon không đáng kể. Đó là lý do để công ty Deminex quyết định chấm dứt công tác tìm kiếm thăm dò ở lô 15. Trong giai đoạn này, sự kiện có ý nghĩa trọng đại cho ngành dầu khí Việt Nam là việc ký hiệp định giữa hai chính phủ Liên Xô và Việt Nam nhằm tìm kiếm thăm dò dầu khí ở khu vực Bạch Hổ và Rồng.

Năm 1987, Công ty Địa vật lý Thái Bình Dương của Liên Xô đã tiến hành khảo sát địa chấn theo mạng lưới tuyến 2x2 km và 0.5 km trên cấu tạo Bạch Hổ và 2x2 km, 1x1 km trên cấu tạo Rồng, Tam Đảo, Trà Tân và Cửu Long, tổng số các tuyến khảo sát lên tới 3000km, khối lượng công tác địa vật lý khá đồ sộ và chi tiết đã tạo tiền đề quan trọng để Công ty Vietsovpetro lựa chọn được các giếng khoan thăm dò thích hợp ở khu vực đấu thầu và đã phát hiện ra dầu thô trong trầm tích Oligocen và Miocen ở cấu tạo Bạch Hổ. Công tác nghiên cứu địa hoá đã được Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Vietsovpetro tiến hành ngay từ những giếng khoan đầu tiên. Hầu hết các mẫu địa hoá đều được phân tích ở phòng Địa hoá thuộc Viện Dầu khí Việt Nam. Kết quả tổng kết từng giếng khoan và đánh giá địa hóa do Vietsovpetro đảm nhiệm (Hoàng Đình Tiến và CTG).

Từ cơ sở khoa học này, Xí nghiệp Vietsovpetro đã gia tăng ngày một nhiều hơn các giếng khoan tìm kiếm thăm dò, số lượng và chủng loại mẫu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com địa hoá ngày một nhiều và kết quả thu được ngày càng phong phú và đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, ở vào thời gian đó do thiết bị phân tích phần nào còn hạn chế so với bây giờ nên các thông số địa hoá hữu hiệu còn chưa đủ vì thế việc đánh giá địa hoá của từng giếng khoan còn bị hạn chế. Tuy nhiên kết quả đáng ghi nhận ở đây là từ những nghiên cứu ban đầu này, Vietsovpetro đã phát hiện dầu thô trong trầm tích Oligocen và Miocen ở cấu tạo Bạch Hổ. Từ năm 1981, Tổng cục Dầu khí Việt Nam đã chú ý một cách thích đáng công tác nghiên cứu khoa học, vì vậy đã có hàng loạt đề tài cấp Nhà nước, cấp ngành được triển khai không chỉ ở bể Cửu Long mà còn trên khắp các bể trầm tích vùng thềm lục địa Việt Nam.

Ví dụ đề tài mang mã số 22-01-01-07 có tên "So sánh đặc điểm địa hoá trong quá trình hình thành bể trầm tích Hà Nội và Cửu Long" do Viện Dầu khí chủ trì và tiến hành từ năm 1981-1985 đã khẳng định tầng đá mẹ Oligoxen giàu vật chất hữu cơ Sapropel ở bể trầm tích Cửu Long chính thức được thừa nhận trên quy mô phân bố và mức độ trưởng thành. Từ năm 1986-1990, theo đơn đặt hàng của Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro, Viện Dầu khí Việt Nam đã tiến hành hàng loạt các đề tài nghiên cứu về cấu trúc và đánh giá tiềm năng dầu khí ở bể Cửu Long. Trong các đề tài này, công tác nghiên cứu địa hoá ngày càng được chi tiết và cụ thể hơn. Song song với các đề tài nêu trên đây, Vietsovpetro cũng đã tiến hành nghiên cứu các đề tài địa hoá cho khu vực Bạch Hổ, Rồng và các vùng kế cận (Hoàng Đình Tiến và TCG).

Có thể nói từ năm 1981-1990 là bước khởi đầu song cũng chính là thời kỳ phát triển mạnh mẽ công tác nghiên cứu địa hoá dầu khí ở bể Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung đã để lại một mốc son quan trọng trong lĩnh vực địa hoá dầu khí ở nước ta. Từ năm 1990 đến nay, một sự kiện gây cho các nhà địa chất dầu khí trong và ngoài nước hết sức ngạc nhiên và lý thú là việc phát hiện ra dầu thô trong móng granitoit nứt nẻ tuổi trước Đệ tam của công ty Vietsovpetro ở mỏ Bạch Hổ. Sự kiện này đã thúc đẩy nhanh chóng công tác thăm dò dầu khí ở cả khu vực mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng. Hàng loạt các giếng khoan thăm dò và khai thác được tiến hành ở hai 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mỏ Rồng và Bạch Hổ cũng như ở các cấu tạo lân cận như Bà Đen IX, Tam Đảo IX, Ba Vì IX.

Công tác nghiên cứu về cấu trúc kiến tạo đá móng granitoit cũng như nghiên cứu địa hoá dầu khí được tiến hành mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Các đề tài đã xúc tiến nghiên cứu đồng bộ hệ thống dầu khí cho toàn bộ bể Cửu Long đặc biệt là cho hai mỏ Bạch Hổ và Rồng. Các nhà địa chất dầu khí bước đầu đã làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa đá mẹ và sản phẩm sinh ra từ đó. Chính sách mới đầu tư cho thiết bị được tăng cường nhanh chóng, các thiết bị phân tích Vitrinit, sắc ký lỏng cao áp, sắc ký bản mỏng, hồng ngoại, PY-GC, GC-MS cũng như Rock-Eral thế hệ mới có kèm theo bộ phân tích TOC đã giúp cho việc phân tích các chỉ tiêu đặc dụng trong địa hóa dầu khí một cách nhanh chóng, chính xác.

Nhờ các kết quả nêu trên mà tầng đá mẹ sinh dầu ở bể Cửu Long được đánh giá một cách chính xác. Việc phát hiện ra dầu thô trong đá móng granitoit không chỉ làm tăng sản lượng khai thác của Vietsovpetro ở hai mỏ Bạch Hổ và Rồng mà còn góp phần to lớn, thúc đẩy và lôi cuốn các công ty nước ngoài khác mạnh dạn đầu tư vào tìm kiếm thăm dò bể Cửu Long. Công ty Entreprise Oli ở lô 17 đã tiến hành khoan ba giếng 17-C-IX, 17-N-IX, 17-DD-IX đã phát hiện ngay dầu thô trong trầm tích Mioxen hạ ở giếng khoan 17-C-IX. Công ty này đã nhanh chóng kết thúc công tác thăm dò địa chấn 3D ở lô 17 và đang tiếp tục khoan thăm dò các giếng mới.

Công ty JVPC trong năm 1994 cũng đã phát hiện dầu thô mới trong móng nứt nẻ - phong hoá ở giếng khoan 15-RD-IX và trữ lượng được đánh giá là không thua kém mỏ Bạch Hổ. Ngoài ra công ty Petronas của Malaysia (1994) cũng đã phát hiện được dầu thô trong trầm tích Miocen hạ, Oligocen và trong đá móng tại cấu tạo Ruby, lô 02. Những thành tựu nêu trên đây đều gắn liền với công tác nghiên cứu cơ bản, đặc biệt là công tác nghiên cứu địa hoá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đặc điểm kiến tạo địa động lực bể Cửu Long và Nam Côn Sơn: Triển vọng dầu khí" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc địa chất và tiềm năng khai thác dầu khí trong khu vực bể Cửu Long và Nam Côn Sơn. Bài viết phân tích các yếu tố kiến tạo địa động lực ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các mỏ dầu khí, từ đó chỉ ra những triển vọng và thách thức trong việc khai thác tài nguyên này. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức mà các yếu tố địa chất có thể tác động đến hoạt động khai thác dầu khí, giúp họ hiểu rõ hơn về ngành công nghiệp này.

Để mở rộng kiến thức của mình, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí của tổng công ty cổ phần khoan và dịch vụ khoan dầu khí 2001 2010, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về sự hợp tác quốc tế trong ngành dầu khí, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh toàn cầu của lĩnh vực này. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về triển vọng và thách thức trong ngành dầu khí.