ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý trải dài trên nhiều vĩ tuyến, khí hậu nhiệt đới ẩm, địa hình phức tạp đã tạo nên sự đa dạng sinh học cao về các loài động thực vật. Nguồn tài nguyên bò sát, lƣỡng cƣ đã đóng góp rất lớn cho sự đa dạng này với 369 loài, 24 họ, 3 bộ bò sát và 176 loài, 10 họ, 3 bộ lƣỡng cƣ (Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng, 2009). Những năm gần đây, các nghiên cứu về bò sát, lƣỡng cƣ ngày càng đƣợc quan tâm; số lƣợng các loài bò sát, lƣỡng cƣ mới đƣợc phát hiện ngày càng tăng lên. Sinh cảnh sống của các loài bò sát, lƣỡng cƣ rất đa dạng.
Sự tiến hóa về cơ thể sống giúp các loài bò sát, lƣỡng cƣ có thể sống đƣợc trong nhiều môi trƣờng khác nhau nhƣ: trên cây, sống trong các tầng cây bụi, dƣới nƣớc, trên mặt đất và dƣới mặt đất trong các khu rừng. Các loài lƣỡng cƣ là động vật có xƣơng sống đầu tiên sống trên cạn nhƣng vẫn còn mang nhiều đặc điểm của môi trƣờng sống dƣới nƣớc, chẳng hạn nhƣ: giai đoạn trứng và nòng nọc sống dƣới nƣớc trải qua quá trình biến thái thành con non và con trƣởng thành sống ở trên cạn. Các loài bò sát do có cấu tạo cơ thể tiến hóa hơn lƣỡng cƣ nhƣ cơ thể đƣợc phủ vảy sừng, hoặc mai, yếm; da không thấm nƣớc, hô hấp hoàn toàn bằng phổi nên môi trƣờng sống của các loài bò sát đa dạng hơn và có thể sống đƣợc ở nhiều môi trƣờng khô hạn (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998). Hầu hết các loài bò sát, lƣỡng cƣ đƣợc sử dụng làm thực phẩm, một số loài đƣợc sử dụng làm thuốc chữa bệnh, làm cảnh.
Trong số đó, có nhiều loài có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn cao nhƣ: các loài Rắn hổ mang (Naja. spp), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Tắc kè hoa (Gekko gecko), Trăn gấm (Python reticulatuss),. Không những vậy, các loài lƣỡng cƣ, bò sát còn là các mắt xích quan trọng trong mạng lƣới thức ăn của hệ sinh thái, là thiên địch của rất nhiều loài côn trùng, giáp xác và thú nhỏ phá hoại mùa màng. Trƣớc đây, con ngƣời chỉ khai thác các loài có giá trị cao nhƣng trƣớc sự khan hiếm về tài nguyên động vật hoang dã nên con ngƣời đã khai thác toàn bộ các loài bò sát, lƣỡng cƣ để phục vụ nhu cầu.
Nhiều loài nòng nọc, ếch nhái nhỏ, các loài rắn nƣớc cũng không ngoại lệ. Tình trạng khai thác quá mức đã dẫn đến sự suy giảm quần thể các loài nghiêm trọng ngoài tự nhiên. Theo tài liệu Sách đỏ Việt Nam 1 (2007), hiện có 40 loài bò sát và 14 loài lƣỡng cƣ đang bị đe dọa ở các mức tuyệt chủng khác nhau. Trong khoảng 10 năm gần đây, khả năng bắt gặp các loài bò sát, lƣỡng cƣ ngày càng khan hiếm.
Vì vậy, công tác nghiên cứu về đa dạng loài, ƣu tiên bảo tồn và có các biện pháp bảo vệ các loài bò sát, lƣỡng cƣ là rất cần thiết và cần đƣợc thực hiện tại tất cả các vùng miền trong cả nƣớc. Khu rừng cấm quốc gia Ba Vì đƣợc thành lập vào ngày 16 tháng 01 năm 1991 do Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 17/CT phê duyệt nhằm bảo vệ tài nguyên rừng hiện có tại khu vực. Ngày 18 tháng 12 năm 1991, Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng ban hành Quyết định số 407/CT về việc đổi tên rừng cấm quốc gia Ba Vì thành Vƣờn Quốc gia (VQG) Ba Vì. Tháng 5 năm 2003, Vƣờn Quốc gia Ba Vì đƣợc Chính phủ quyết định mở rộng quy hoạch sang tỉnh Hoà Bình.
Hiện nay, tổng diện tích của Vƣờn là 10.814,6ha thuộc địa phận ranh giới hành chính của 16 xã và 3 huyện của TP.Hà Nội và 2 huyện của tỉnh Hòa Bình. Từ khi thành lập đến nay, VQG Ba Vì đã có nhiều nghiên cứu về tài nguyên động thực vật rừng. Trong số đó có một số công trình nghiên cứu về bò sát, lƣỡng cƣ tiêu biểu của Nguyễn Văn Sáng, Lê Nguyên Ngật và Hoàng Nguyên Bình (1995); Phan Viết Đại (2013); Phạm Tuấn Dũng (2013). Các nghiên cứu này đã ghi nhận đƣợc 31 loài, 5 họ, 1 bộ lƣỡng cƣ và 68 loài, 15 họ, 2 bộ bò sát.
Trong số đó có 17 loài bò sát có tên trong sách đỏ. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đã thực hiện cách đây 4 năm và là các cuộc điều tra diễn ra nhanh, thời gian ngắn. Vì vậy, các nghiên cứu bổ sung về thành phần loài, sự phân bố bò sát, lƣỡng cƣ theo sinh cảnh, đánh giá giá trị tài nguyên và khắc phục các tác động tiêu cực của cộng đồng địa phƣơng đến các nguồn tài nguyên là cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm khu hệ bò sát, lƣỡng cƣ tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì”.
Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung các thông tin hữu ích, phục vụ công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên bò sát, lƣỡng cƣ nói riêng và đa dạng sinh học nói chung tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu về thành phần các loài bò sát, lƣỡng cƣ ở các vùng miền của Việt Nam Nghiên cứu khu hệ bò sát, lƣỡng cƣ ở Việt Nam đã đƣợc tiến hành từ cuối thế kỷ XIX ở nhiều khu vực trên toàn lãnh thổ. Các phân loại dựa trên các đặc điểm hình thái bên ngoài nhƣ: đầu, mõm, chân, da, đuôi, màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm.
Tuy nhiên, các nhà khoa học đều thống nhất phân chia lớp bò sát thành 3 dạng: dạng Thằn lằn và Cá sấu, dạng Rắn, dạng Rùa. Các loài lƣỡng cƣ đƣợc chia thành 3 dạng: ếch nhái có đuôi, ếch nhái không đuôi và ếch nhái không chân (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998). Phần lớn các công trình đều tập trung nghiên cứu thống kê thành phần loài ởmột khu vực nhƣ: Nam Bộ (Morice, 1875; Tirant, 1885), Hòa Bình (Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự, 1975), hay toàn bộ bán đảo Đông Dƣơng bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia (Bour-ret, 1936, 1941, 1942). Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Sáng (1967), Nguyễn Quốc Thắng (1968), Đỗ Tƣớc (1969), Kim Ngọc Sơn (1970) và một số đợt thực tập của sinh viên khoa Sinh vật trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội đã sƣu tầm ở Bắc Kạn và Thái Nguyên 220 tiêu bản bò sát và 630 tiêu bản lƣỡng cƣ.
Sau khi phân tích các mẫu tiêu bản, các nhà khoa học đã thống kê đƣợc 74 loài bò sát và 34 loài lƣỡng cƣ tại các khu vực này. Năm 1968, Phòng Động vật thuộc Viện Khoa học Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu tại nhiều địa phƣơng khác nhau ở miền Bắc nƣớc ta. Kết quả của các nghiên cứu này đã ghi nhận đƣợc 361 tiêu bản bò sát và 996 tiêu bản lƣỡng cƣ. Khóa định loại Rùa và Cá sấu Việt Nam của Đào Văn Tiến (1978) đã sử dụng các đặc điểm dễ nhận biết về hình thái nhƣ màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm (đối với rùa) để phân loại và sắp xếp chúng theo các đơn vị phân loại khác nhau.
Theo đó, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 32 loài Rùa và 2 loài Cá Sấu. 3 Khóa định loại về Thằn lằn Việt Nam của Đào Văn Tiến (1979) cũng sử dụng các đặc điểm về hình dạng bên ngoài để phân loại chúng. Trong đó các đặc điểm đƣợc chú ý phân loại nhƣ hình dạng và kích thƣớc của đầu, các nốt sần, vẩy. Hình dạng của thân, lƣng và bụng phủ vẩy, nốt sần hoặc gai, số hàng vẩy trên lƣng.
Đối với các chi thì có các chỉ tiêu nhƣ chiều dài chi, số ngón. Có màng bơi hay không, các ngón có giác bám hay không… theo đó tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 77 loài thằn lằn. Trong khóa định loại Rắn Việt Nam tập 1 của tác giả Đào Văn Tiến (1981) các chỉ tiêu đƣợc dùng để định loại là hình thái và kích thƣớc thân, hình dạng của đầu, số lƣợng hàng vẩy thân và vẩy lƣng… trong khóa định loại này, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 47 loài. Khóa định loại Rắn Việt Nam tập 2 của Đào Văn Tiến (1982), với những tiêu chí giống nhƣ khóa định loại tập 1, tác giả đã định loại cho 112 loài thuộc họ rắn nƣớc.
Trong các tài liệu phân loại thì Khóa định loại bò sát, ếch nhái của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981, 1982) là tài liệu đƣợc nghiên cứu chi tiết nên hiện vẫn đang đƣợc sử dụng trong việc định loại và tra cứu các loài bò sát, lƣỡng cƣ. Năm 1981, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu về khu hệ động vật ở miền Bắc Việt Nam và xây dựng báo cáo: “Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam”. Trong phần bò sát, lƣỡng cƣ, các tác giả đã thống kê đƣợc159 loài bò sát và 69 loài lƣỡng cƣ. Năm 1985, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật trong“Tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật Việt Nam” đã thống kê đƣợc 350 loài lƣỡng cƣ và bò sát đƣợc ghi nhận ở nƣớc ta.
Trong đó có 260 loài thuộc lớp bò sát và 90 loài thuộc lớp lƣỡng cƣ. Năm 1993, Hoàng Xuân Quang điều tra thống kê danh lục bò sát, lƣỡng cƣ ở các tỉnh miền Bắc Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu đã thống kê đƣợc 94 loài bò sát thuộc 59 giống và 17 họ và 34 loài lƣỡng cƣ thuộc 14 giống và 7 họ. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã xây dựng “Danh lục bò sát và lưỡng cư Việt Nam”.
Đây là kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các cuộc điều tra tại tất cả các vùng miền trong cả nƣớc, nhất là ở các vùng núi, vùng sâu, 4 vùng xa. Trong bảng danh lục này, các tác giả đã thống kê đƣợc 258 loài bò sát và 82 loài lƣỡng cƣ ở Việt Nam. Năm 1997, Lê Nguyên Ngật tiến hành nghiên cứu bò sát, lƣỡng cƣ ở vùng núi Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum. Kết quả nghiên cứu này đã lập đƣợc danh sách gồm 53 loài lƣỡng cƣ và bò sát.
Năm 1999, Lê Nguyên Ngật và Nguyễn Văn Sáng tiến hành khảo sát khu hệ lƣỡng cƣ, bò sát ở vùng rừng Tây Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu này đã lập đƣợc danh sách gồm 66 loài lƣỡng cƣ và bò sát. Năm 1999, Nguyễn Văn Thƣờng tiến hành nghiên cứu về khu hệ bò sát, lƣỡng cƣ tại Núi Luốt (trƣờng Đại học Lâm nghiệp).