Đặc Điểm Hồi Ký Văn Học Việt Nam Từ 1975 Đến 2010

Chuyên khảo văn học phân tích Luận án đặc điểm hồi ký văn học việt nam từ 1975 đến 2010, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

160
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.2.1. Đối tượng nghiên cứu

0.2.2. Phạm vi nghiên cứu

0.3. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

0.3.1. Lý thuyết

0.3.2. Phương pháp nghiên cứu

0.4. Đóng góp của luận án

0.5. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu thể hồi ký từ 1975 đến 2010

1.1.1. Những công trình, bài báo nghiên cứu khái quát

1.1.2. Những công trình, bài báo nghiên cứu về từng tác giả, tác phẩm

1.1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài

1.1.3.1. Về tình hình nghiên cứu
1.1.3.2. Hướng triển khai đề tài

2. CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO HỒI KÝ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

2.1. Giới thiệu khái niệm và quan niệm thể loại

2.2. Đặc trưng hồi ký

2.3. Cách phân loại hồi ký

2.4. Những chặng đường phát triển của hồi ký trong văn học Việt Nam hiện đại

2.4.1. Giai đoạn trước 1975 - Những khởi động có tính dự báo

2.4.2. Giai đoạn từ 1975 đến 2010 - Những mùa vàng hồi ký

3. CHƯƠNG 3: CẢM QUAN VỀ HIỆN THỰC VÀ CÁC DẠNG CHÂN DUNG NHÂN VẬT CỦA HỒI KÝ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN 2010

3.1. Cảm quan về hiện thực

3.1.1. Hiện thực đời sống xã hội qua những biến thiên lịch sử

3.1.2. Hiện thực đời người qua những bước thăng trầm

3.2. Các dạng chân dung nhân vật

3.2.1. Chân dung tự họa - chủ thể hồi ký văn học

3.2.2. Chân dung được họa - nhân vật trong hồi ký văn học

4. CHƯƠNG 4: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT CỦA HỒI KÝ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN 2010

4.1. Trần thuật từ ngôi tác giả và tổ chức điểm nhìn

4.2. Sự chuyển hóa hình tượng tác giả vào người kể chuyện

4.3. Sự luân chuyển điểm nhìn

4.4. Đa dạng hóa kết cấu trần thuật

4.4.1. Kết cấu tuyến tính

4.4.2. Kết cấu lắp ghép

4.4.3. Kết cấu liên văn bản

4.5. Sự đa dạng của ngôn ngữ trần thuật

4.5.1. Ngôn ngữ người kể chuyện

4.5.2. Ngôn ngữ nhân vật cá tính hóa, đậm chất đời thường

4.6. Giọng điệu trần thuật

4.6.1. Giọng triết lý, suy tư

4.6.2. Giọng trữ tình, hoài niệm

4.6.3. Giọng dí dỏm, hài hước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đặc Điểm Hồi Ký Văn Học Việt Nam 1975 2010

Hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010 là một thể loại đặc biệt, phản ánh những biến động xã hội và tâm tư của con người trong giai đoạn lịch sử đầy biến động. Thể loại này không chỉ ghi lại những sự kiện mà còn thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc sống, con người và văn hóa. Sự phát triển của hồi ký trong giai đoạn này cho thấy sự chuyển mình của văn học Việt Nam, từ những tác phẩm mang tính chất ghi chép đơn thuần đến những tác phẩm nghệ thuật sâu sắc, đa dạng về nội dung và hình thức.

1.1. Định nghĩa và vai trò của hồi ký trong văn học

Hồi ký là một thể loại văn học ghi lại những trải nghiệm cá nhân của tác giả. Nó không chỉ đơn thuần là ghi chép mà còn là sự phản ánh sâu sắc về hiện thực xã hội. Hồi ký giúp độc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và tâm tư của con người trong từng giai đoạn.

1.2. Lịch sử phát triển của hồi ký từ 1975 đến 2010

Giai đoạn từ 1975 đến 2010 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hồi ký. Nhiều tác phẩm nổi bật đã ra đời, phản ánh những câu chuyện chưa được kể và những góc nhìn mới mẻ về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Sự đa dạng trong thể loại này đã tạo nên một bức tranh phong phú về đời sống văn học.

II. Những Thách Thức trong Nghiên Cứu Hồi Ký Văn Học Việt Nam

Mặc dù hồi ký đã có những bước phát triển đáng kể, nhưng việc nghiên cứu thể loại này vẫn gặp nhiều thách thức. Các nhà nghiên cứu thường gặp khó khăn trong việc phân loại và đánh giá các tác phẩm hồi ký, do sự đa dạng về nội dung và hình thức. Hơn nữa, việc thiếu hụt tài liệu và sự quan tâm chưa đầy đủ từ giới phê bình cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Khó khăn trong việc phân loại thể loại hồi ký

Việc phân loại hồi ký gặp khó khăn do sự giao thoa giữa các thể loại khác nhau. Nhiều tác phẩm hồi ký có yếu tố hư cấu, khiến cho việc xác định ranh giới giữa hồi ký và tiểu thuyết trở nên mờ nhạt.

2.2. Thiếu hụt tài liệu và sự quan tâm từ giới nghiên cứu

Nhiều tác phẩm hồi ký chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, dẫn đến việc thiếu hụt tài liệu tham khảo. Điều này ảnh hưởng đến khả năng đánh giá và phân tích các tác phẩm hồi ký một cách toàn diện.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hồi Ký Văn Học Việt Nam

Để nghiên cứu hồi ký văn học Việt Nam, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng. Các phương pháp này bao gồm phân tích nội dung, so sánh và đối chiếu giữa các tác phẩm, cũng như khảo sát các yếu tố văn hóa xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của hồi ký.

3.1. Phân tích nội dung và hình thức nghệ thuật

Phân tích nội dung giúp làm rõ các chủ đề chính trong hồi ký, trong khi phân tích hình thức nghệ thuật giúp hiểu rõ cách thức tác giả thể hiện ý tưởng và cảm xúc của mình.

3.2. So sánh và đối chiếu giữa các tác phẩm

So sánh và đối chiếu giữa các tác phẩm hồi ký giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng của từng tác giả, đồng thời chỉ ra những xu hướng chung trong thể loại này.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Hồi Ký

Nghiên cứu hồi ký không chỉ mang lại những hiểu biết sâu sắc về văn học mà còn có thể ứng dụng trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn hóa. Các tác phẩm hồi ký có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo trong các khóa học về văn học và lịch sử, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và tâm tư của con người trong từng giai đoạn.

4.1. Tác động của hồi ký đến giáo dục văn học

Hồi ký có thể được sử dụng như một công cụ giảng dạy hiệu quả, giúp sinh viên tiếp cận với văn học một cách sinh động và thực tế hơn.

4.2. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp cho văn học

Nghiên cứu hồi ký đã chỉ ra những đóng góp quan trọng của thể loại này đối với sự phát triển của văn học Việt Nam, đồng thời mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo.

V. Kết Luận và Tương Lai của Hồi Ký Văn Học Việt Nam

Hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010 đã chứng minh được giá trị và vai trò của mình trong đời sống văn học. Tương lai của thể loại này hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển, với nhiều tác phẩm mới ra đời, phản ánh những câu chuyện chưa được kể và những góc nhìn mới về lịch sử và văn hóa.

5.1. Dự đoán về sự phát triển của hồi ký trong tương lai

Dự đoán rằng hồi ký sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong tương lai, với sự xuất hiện của nhiều tác phẩm mới, phản ánh những vấn đề đương đại và tâm tư của con người.

5.2. Vai trò của hồi ký trong việc bảo tồn văn hóa

Hồi ký không chỉ là một thể loại văn học mà còn là một phương tiện quan trọng để bảo tồn và truyền tải văn hóa, lịch sử và những giá trị nhân văn của dân tộc.

15/07/2025
Luận án đặc điểm hồi ký văn học việt nam từ 1975 đến 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU So với các thể loại khác, hồi ký xuất hiện muộn. Ở phư ng Tây, hồi ký đ phát triển mạnh mẽ từ thế k I. Ở Việt Nam cho đến những năm 30, 40 của thế k , hồi ký mới xuất hiện và m i đến những thập niên cuối thế k mới phát triển và đạt thành tựu như một thể loại độc lập. Tuy nhiên việc định danh về thể loại của hồi ký vẫn còn chưa thống nhất.

Thành tựu không nhiều. Trong quá trình hình thành, vận động, hồi ký ngày càng trở nên đa dạng, đặc biệt là ở chặng đường văn học sau 1975. Thể hồi ký vừa có khả năng đáp ứng những yêu cầu bức thiết của chủ thể sáng tạo, vừa là n i cá tính sáng tạo của người nghệ sỹ tìm được cách thức thể hiện nghệ thuật mới. Trong đời sống văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010, thể hồi ký khá đa dạng cả về đề tài, nội dung phản ánh đến bút pháp thể hiện.

Chính vì thế, thể hồi ký là đối tượng được quan tâm sâu sắc của ngành lý luận, phê bình hiện đại. Dưới lý thuyết tiếp nhận hiện đại, các nhà nghiên cứu, phê bình đ có nhiều công trình, bài nghiên cứu cung cấp nhiều vấn đề quan trọng về thể hồi ký và các tác phẩm hồi ký. Từ những định hướng nghiên cứu của đề tài, trên c sở tổng hợp, thống kê, chúng tôi nhận thấy những công trình nghiên cứu về hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010 đi theo hai nhóm: thứ nhất là những bài nghiên cứu có tính tổng quan về hồi ký văn học; thứ hai là nhóm nghiên cứu từng tác giả, tác phẩm hồi ký, qua đó nhằm đưa ra những đánh giá chung về thể loại. Tình hình nghiên cứu thể hồi ký từ 1975 đến 2010 1.

Những công trình, bài báo nghiên cứu khái quát Các vấn đề được các nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm là: tính hư cấu trong hồi ký, mối quan hệ giữa người kể và người ghi hồi ký; sự khác nhau của nhân vật trong hồi ký với nhân vật trong tiểu thuyết;… Nhìn chung, các tác giả chỉ điểm qua nhưng chưa khảo sát từ nhiều tác phẩm hồi ký và chưa có những đối chiếu để thấy được những đặc điểm thuộc về thể hồi ký. Chính vì vậy, kết 6 quả chỉ dừng lại ở việc định hướng chứ chưa hệ thống hóa thành những luận điểm có c sở lý luận để soi chiếu vào các tác phẩm hồi ký nhằm tìm thấy đặc trưng riêng của thể này. Những bước đầu nghiên cứu về thể hồi ký ở các nội dung trên có thể kể đến các tác giả với các bài: Bàn về sự khác nhau của nhân vật hồi ký với nhân vật tiểu thuyết, Nguyễn Thế Hưng và Lư ng Ích Cẩn trong bài Bàn thêm về mối quan hệ iữa n ười kể và n ười hi tron hồi k , đ nhận định: “Nhân vật trong tiểu thuyết là nhân vật được xây dựng nên bằng phư ng pháp hư cấu, khái quát hóa, điển hình hóa của nhà viết tiểu thuyết; chú ý làm sao cho nhân vật nói đúng tiếng nói của họ, tiếng nói phù hợp với thời đại họ sống. Nhân vật trong hồi ký vừa là nhân vật có thật của quá khứ, vừa là nhân vật có thật của hiện tại.

Họ không hề làm mất tính chân thực của văn học khi dùng ngôn ngữ hiện đại để thuật lại sự việc đ xảy ra trong dĩ v ng, bởi vì bản thân họ đ là một sự thật tồn tại hiển nhiên rồi. Cùng quan điểm với hai tác giả trên, Phạm Hồng Giang trong bài Góp một kiến về vấn đề nân cao chất lượn hi chép hồi k , đ cho rằng: người ghi hồi ký cần phải giấu kín cái tôi của mình đi, để khi đọc tác phẩm, độc giả không hoàn toàn trực tiếp nghe người kể kể chuyện. Và từ đó, tác giả khẳng định vai trò của người kể trong hồi ký: “Người kể vừa là người của quá khứ, vừa là người của hiện tại, ta không nên buộc họ phải dùng ngôn ngữ của quá khứ; họ có thể dùng ngôn ngữ của hiện tại để kể. Người ghi cần phải dùng phư ng pháp hư cấu để xây dựng hình tượng của mình đồng thời phải chuyển ngôn ngữ tự nhiên của người kể thành ngôn ngữ viết” [37, tr.

Vũ Đức Phúc trong bài Bàn về các thể k tron văn học từ Cách mạn thán Tám cho đến nay, đ đề cập đến tính hư cấu trong hồi ký. Theo tác giả: “Hư cấu trong tiểu thuyết là chọn lọc và khái quát sự thật về nhiều người để xây dựng một nhân vật không có thật nhưng tiêu biểu. Hư cấu trong hồi ký về một người là chọn lọc và khái quát những sự thật về người đó. Hai lối hư cấu trong văn học hiện thực đều có tính khoa học như nhau nhưng cách làm khác nhau vì đề tài ở hồi ký được quy định một cách nghiêm ngặt.

Nhân vật trong hồi ký không phải chỉ đại diện cho một tầng lớp x hội mà còn phải là hình ảnh rất 7 chính xác về một người có thật. Thành thật, không bịa đặt là điều kiện đầu tiên người ta đòi hỏi ở tư cách người viết hồi ký. Trong công trình K viết về chiến tranh cách mạn và xây dựn chủ n hĩa xã hội, Hà Minh Đức đ phân biệt sự khác nhau của cái tôi trong ký cũng như hồi ký với tiểu thuyết - tự truyện: “Người viết tiểu thuyết - tự truyện nói về mình, cuộc sống của mình, nhưng không giới hạn trong khuôn khổ đó. Họ luôn có xu hướng mở rộng để nói về cuộc đời chung.

Dòng tự truyện trực tiếp xoay quanh cái tôi luôn được mở rộng ra hết cảnh ngộ này đến cảnh ngộ khác, của cuộc đời trực tiếp và gián tiếp có liên hệ đến cái tôi” [28, tr. Còn “dòng kể của hồi ký có một mạch trôi trực tuyến h n xoay quanh cái tôi. Những sự kiện cũng ít móc nối vào nhau để mở ra những khung cảnh và liên hệ mới. Kết cấu của tác phẩm hồi ký cũng dựa chủ yếu vào kết cấu vốn có của cuộc đời thực và ít đổi thay tái tạo lại khung sự kiện” [28, tr.

Nhìn chung các nhà nghiên cứu đ đưa ra kiến giải nhưng chưa đi vào khảo sát có tính hệ thống từ nhiều tác phẩm của một tác giả và đối chiếu với các tác giả khác để thấy được đặc điểm thể hồi ký từ thực tiễn sáng tác. Chính vì vậy kết quả nghiên cứu chưa hệ thống hóa thành những luận điểm để làm c sở soi chiếu vào tác phẩm nhằm luận giải thỏa đoán về đặc trưng riêng của thể tài vốn có đời sống rất phong phú và đa dạng này trong quá trình phát triển trong sự vận động của đời sống văn học nước nhà. Nghiên cứu mang tính tổng quan về hồi ký văn học Việt Nam trước 1986 chưa thật sự được các nhà nghiên cứu quan tâm. Thông qua các bài nghiên cứu một tác giả, tác phẩm cụ thể, bước đầu các nhà nghiên cứu đưa ra những nhận định có tính khái quát về trong khoảng thời gian này.

Các tác giả: Hà Minh Đức, Bích Thu, Đỗ Hải Ninh, Lý Hoài Thu,. đ có nhiều nhận định sắc sảo và làm tiền đề cho c sở lý luận nghiên cứu thể hồi ký. Trước hết, các tác giả đều đi đến khẳng định: hồi ký trở thành hiện tượng văn học nở rộ, thể hồi ký càng phát triển h n nữa khi văn học được “cởi trói”, khi đời sống dân chủ được thúc đẩy và “cái tôi” cá nhân của tác giả trở thành 8 đối tượng phản ánh. Và sau đó, mỗi tác giả đi vào nghiên cứu những vấn đề cụ thể của thể hồi ký.

Một trong những công trình nghiên cứu văn học s đề cập đến thể hồi ký trong quá trình nghiên cứu lịch s văn học nước nhà là Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại của trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Các tác giả đ đề cập: “Trong văn xuôi những năm 90 và vài năm gần đây, thấy nổi lên hai mảng đáng chú ý: hồi ký-tự truyện và tiểu thuyết lịch s. Một loạt hồi ký của các nhà văn, nhà th , cả những nhà hoạt động x hội đ đem lại cho người đọc những hiểu biết cụ thể, sinh động và xác thực về x hội, lịch s , về đời sống văn học và gư ng mặt một số nhà văn ở những thời kỳ đ qua” [111, tr. Trong mục Các thể k văn học của cuốn L luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, tác giả lý giải, dự đoán “trong tư ng lai sẽ có rất nhiều hồi ký, nhật ký xuất hiện khi người ta quan tâm đến cuộc đời riêng của nhiều loại người vốn có đóng góp hoặc nổi danh ở một lĩnh vực nào đó” [30, tr.

Từ đó khẳng định giá trị của hồi ký: “Đóng góp cho đời sống văn học bằng cuộc đời nghệ thuật đ trải qua nhiều chặng đường, những trang hồi ký của nhà văn đ gợi lên được những nhận thức có ý nghĩa chung cho mọi người về hiện thực x hội và đời sống văn học từ những câu chuyện xảy ra thuộc về một quá khứ gần gũi và có nhiều liên hệ với cuộc đời hiện tại” [30, tr. Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài Văn xuôi Việt Nam hiện nay - logic quanh co của các thể loại, nhữn vấn đề đan đặt ra và triển vọn đ có nhận định chung về hồi ký sau 1975: “Một số năm gần đây, có phần lặng lẽ nhưng thâm trầm, xuất hiện một số hồi ký của các nhà văn. Từ sau chiến tranh, đ có rất nhiều hồi ký, có thể gọi là “hồi ký của các vị tướng”, kể lại chuyện chiến tranh của chính họ và đồng đội của họ. Ðôi khi những hồi ký này cung cấp được nhiều tư liệu lịch s đáng quý mà chính s đ bỏ qua:”.

Nguyên Ngọc chú ý đến hồi ký văn học, ít nhiều đ cho thấy nguyên nhân của sự phát triển hồi ký sau 1975. Theo tác giả: “Hồi ký của các nhà văn thì khác. Trong x hội nào cũng vậy, nhà văn là một kiểu ký ức của x hội. Nhà văn cũng là những người được x hội “giao cho” cái công việc thường xuyên tự soi lại mình của x hội trên con 9 đường đi tới của nó.

Cho nên khi nhà văn viết hồi ký thì có khác những người khác, đấy là x hội tự nói lại về chính mình (tất nhiên trong những hồi ký thành công). Rất đáng chú ý là hai tập hồi ký của Tô Hoài Cát bụi chân ai và Chiều chiều” [94].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ