CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Vị trí vùng nghiên cứu Thái Bình là tỉnh ven biển, thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hƣởng của tam giác tăng trƣởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Phía Bắc giáp với tỉnh Hƣng Yên, Hải Dƣơng và Hải Phòng; phía Tây và Tây Nam giáp với tỉnh Nam Định và Hà Nam; phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ.1: Sơ đồ vị trí vùng và các lỗ khoan nghiên cứu.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Khí hậu khí tượng Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa. Thái Bình có nhiệt độ trung bình 23º-24ºC, số giờ nắng từ 1600-1800h, tổng lƣợng mƣa trong năm 1700-2200mm, độ ẩm không khí từ 80-90%. Gió mùa mang đến Thái Bình một mùa đông lạnh mƣa ít, một mùa hạ nóng mƣa nhiều và hai thời kỳ chuyển tiếp ngắn.
Là tỉnh đồng bằng nằm sát biển, khí hậu Thái Bình đƣợc điều hòa bởi hơi ẩm từ vịnh Bắc Bộ tràn vào. Gió mùa đông bắc qua vịnh Bắc Bộ vào Thái Bình làm tăng độ ẩm so với những nơi khác nằm xa biển. Vùng áp thấp trên đồng bằng Bắc Bộ về mùa hè hút gió biển làm bớt tính khô nóng ở Thái Bình. Sự điều hòa của biển làm cho biên độ nhiệt tuyệt đối ở Thái Bình thấp hơn ở Hà Nội 5ºC.
Ngay trong phạm vi tỉnh, sự điều hòa nhiệt ẩm ở vùng ven biển Thái Thụy, Tiền Hải rõ rệt hơn những vùng xa biển. Biên độ nhiệt trung bình trong năm ở Diêm Điền là 12,8ºC, còn ở thành phố Thái Bình là 13,1ºC. Tuy nhiên do diện tích nhỏ, gọn và địa hình tƣơng đối bằng phẳng nên sự phân hóa theo lãnh thổ tỉnh không rõ rệt. Tài nguyên đất Theo số liệu của Cục Thống kê năm 2000, diện tích đất tự nhiên Thái Bình là 154,224ha, chủ yếu là đất nông nghiệp và lâm nghiệp.
Đất nông nghiệp của tỉnh tuy chỉ có 96,567ha, bình quân trên đầu ngƣời thấp, nhƣng do có nhiều kinh nghiệm sản xuất và áp dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến trong nông nghiệp nên sản lƣợng lƣơng thực ngày một tăng. Đất lâm nghiệp toàn tỉnh chỉ có 2.560ha ở ven biển Thái Thụy, Tiền Hải. Rừng trên diện tích này không nhiều, một vài nơi có sú vẹt dƣới bãi triều hoặc phi lao trên bờ cao. Việc bảo vệ và phát triển rừng trên diện tích này là nhiệm vụ quan trọng góp phần cố định phù sa, mở rộng diện tích tự nhiên của tỉnh.
Đặc điểm địa hình Thái Bình là một tỉnh đồng bằng có địa hình tƣơng đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%; cao trình biến thiên phổ biến từ 1-2m so với mực nƣớc biển, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Nền địa hình Thái Bình là đồng bằng đƣợc hình thành cách đây không lâu. Đƣờng bờ biển hiện nay chỉ mới đƣợc bồi đắp trong vòng 100-200 năm trở lại đây. Tỉnh Thái Bình nằm trong đồng bằng Bắc bộ, có đặc điểm chung của đồng bằng châu thổ, đồng thời có những nét riêng.
Nhìn chung đất Thái Bình đƣợc bồi đắp từ phù sa của các dòng sông lớn. Trong đó vai trò bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng là chủ yếu. Quá trình bồi tụ diễn ra liên tục và từ từ, trải qua thời gian dài (hàng nghìn năm), kết hợp với gió bão, sóng biển, diễn biến thủy triều của biển Đông, nên ở đây địa hình thấp, bằng phẳng. Song hành với thời gian diễn ra sự bồi tụ của tự nhiên 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com còn phải kể đến trí tuệ và sức lao động của con ngƣời sống trên mảnh đất này.
Hiện nay, Thái Bình trở thành một trọng điểm lúa nƣớc nằm trong vựa lúa của đồng bằng Bắc Bộ và cả nƣớc. Đặc điểm thủy văn Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhận một lƣợng mƣa lớn (1.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lƣu của sông Hồng, trƣớc khi chạy ra biển. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ, ngƣời ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8492km, mật độ bình quân từ 5- 6km/km2.
Hƣớng dòng chảy của các con sông đa số theo hƣớng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hƣởng của sông Thái Bình. Sản xuất nông – lâm – thủy sản. Trong những năm gần đây, tuy gặp nhiều khó khăn do môi trƣờng diễn biến phức tạp, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi,… nhƣng nhờ đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngƣ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chủ động kiểm soát, phòng trừ dịch bệnh, nên giá trị sản xuất của ngành nông, lâm, thủy sản vẫn giữ mức tƣơng đối ổn định.
Theo số liệu năm 2016: Trồng trọt: Tuy bị thiệt hại nặng nề do cơn bão số 1 gây ra nhƣng giá trị sản xuất vẫn tăng 1,89% so với năm trƣớc. Tổng diện tích gieo trồng đạt 225.148 ha, bằng 99,58% so với năm 2015 (chủ yếu do chuyển sang sản xuất công nghiệp, đất ở và xây dựng các công trình giao thông), trong đó diện tích lúa đạt 160,061 ha, bằng 99,5%. Chăn nuôi, thủy sản phát triển ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Chăn nuôi trang trại, gia trại tiếp tục phát triển, toàn tỉnh hiện có 744 trang trại chăn nuôi.
Công tác thú y đƣợc chú trọng, triển khai thực hiện tốt kế hoạch tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc khử trùng cho đàn gia súc, gia cầm. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 14.662ha, sản lƣợng ƣớc đạt 198. Khai thác thủy sản tiếp tục phát triển theo hƣớng đẩy mạnh khai thác xa bờ, sản lƣợng ƣớc đạt 70. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp trong tỉnh tuy còn nhiều khó khăn, nhƣng đã đạt đƣợc kết quả rất đáng khích lệ, giá trị sản xuất ƣớc đạt 40.
Hoạt động của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp ổn định và có mức tăng trƣởng khá. Nghề và làng nghề tiếp tục đƣợc duy trì và phát triển với tổng số 247 làng nghề đƣợc công nhận. Thƣơng mại – dịch vụ và tài chính ngân sách 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công tác khuyến thƣơng, xúc tiến thƣơng mại và quản lý thị trƣờng đƣợc quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt. Thực hiện hiệu quả chƣơng trình xúc tiến thƣơng mại, hội chợ Nông nghiệp quốc tế đồng bằng Bắc Bộ, chƣơng trình đƣa hàng Việt về nông thôn, tăng cƣờng các biện pháp đấu tranh chống gian lận thƣơng mại, sản xuất kinh doanh trái phép,… Các ngành thƣơng mại, dịch vụ phát triển ổn định.
Giá trị sản xuất toàn ngành ƣớc đạt 23.500 tỷ đồng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ƣớc đạt 32.815 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu ƣớc đạt 1.400 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu ƣớc đạt 1. Dịch vụ vận tải, bƣu chính, viễn thông trên địa bàn cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân. Tín dụng ngân hàng tăng trƣởng khá. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện tốt việc quản lý tiền tệ, ngân hàng; đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu.
Công tác quản lý điều hành tài chính – ngân sách đƣợc chỉ đạo quyết liệt, đạt hiệu quả cao; thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp tăng cƣờng quản lý nguồn thu, chống thất thu ngân sách. Dân số, dân tộc Dân số trung bình của tỉnh Thái Bình là 1.786 nghìn ngƣời, chiếm 0,5% về diện tích, chiếm 9,85% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và khoảng 2,23% của cả nƣớc. Mật độ dân số trung bình là 1.196,7 ngƣời/km2. Dân cƣ trong tỉnh chủ yếu là dân tộc Kinh.
Những năm đầu khi chiến tranh mới kết thúc, dân số của vùng phát triển tƣơng đối nhanh, về sau tốc độ tăng dân số giảm dần theo kế hoạch phát triển dân số của cả nƣớc và của vùng. Hiện nay, dân số có sự phát triển bình thƣờng tăng theo tỷ lệ tăng tự nhiên, không chịu ảnh hƣởng của tăng dân số cơ học, tức là không có sự di cƣ từ các miền đất khác đến đây. Giáo dục Sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã và đang đƣợc quan tâm phát triển, từ giáo dục mầm non cho đến đại học. Trong năm học 2012 – 2013, Thái Bình là một trong năm tỉnh, thành phố đầu tiên trong cả nƣớc đƣợc công nhận đạt phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt tỷ lệ cao, số học sinh đỗ đại học, cao đẳng xếp thứ 2 toàn quốc.
Y tế Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân trong tỉnh đã và đang đƣợc chú trọng. Mạng lƣới chăm sóc sức khỏe cộng đồng phát triển đều khắp trên địa bàn tỉnh. Hầu nhƣ không còn điểm trắng về cơ sở khám chữa bệnh ở các vùng nông thôn. 100% các xã đều có trạm y tế, đội ngũ bác sỹ, y tá ngày càng đƣợc bổ sung.
Tuy vậy, sự phát 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển của mạng lƣới chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn chƣa phù hợp với tốc độ phát triển dân cƣ trong vùng cũng nhƣ nhu cầu mở rộng các điểm dân cƣ. Công tác phòng bệnh đƣợc thực hiện tốt, toàn vùng về cơ bản đã khống chế và thanh toán đƣợc một số các bệnh dịch nguy hiểm nhƣ sốt phát ban, tiêu chảy cấp,… 1. Đặc điểm địa tầng vùng nghiên cứu.Các thành tạo trƣớc Kainozoi. Trong khu vực nghiên cứu không gặp các đá cổ lộ ra trên bề mặt mà chỉ gặp trong các lỗ khoan sâu.
Theo các tài liệu khoan của Dầu khí, tại phần đáy của lỗ khoan 104, độ sâu 3860m gặp các đá phun trào của hệ tầng Tam Đảo có tuổi Trias giữa với thành phần chủ yếu là ryolit porphyr phân lớp dày màu xám, ryolit phân dải. Các đá ryolit này không xác định đƣợc bề dày. Tại phần đáy của lỗ khoan 81, ở độ sâu 2485m; phần đáy của lỗ khoan 203, ở độ sâu 4128m gặp các đá vôi màu xám, xám sáng có chứa dolomit phân lớp dày dạng khối của hệ tầng Bắc Sơn có tuổi Cacbon – Permi. Không xác định đƣợc bề dày của các lớp đá này.Các thành tạo Kainozoi.