mở đầu bằng mùn bã hữu cơ hay phế liệu, còn sinh vật tiêu thụ bậc một là những loài động vật ăn phế liệu. Tiếp theo là các nhóm ăn thịt các cấp nhƣ các loài động vật không xƣơng sống ăn thịt cỡ lớn, động vật có xƣơng có kích thƣớc khác nhau chủ yếu là cá. Mùn bã hữu cơ giàu có và đóng vai trò quan trọng trong chu trình vật chất của hệ sinh thái cửa sông. Cửa sông nhƣ một cái bẫy, bẫy vào đây nguồn thức ăn mùn bã phong phú với năng suất và sản lƣợng cao, nhất là trong rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các bãi bùn triều kế cận, kéo theo là sự phát triển của động vật ăn mùn bã cũng nhƣ các loài ăn thịt chúng đi kèm (Vũ Trung Tạng và nnk, 1981, 1985; Vũ Trung Tạng, 1994; Day và cộng sự, 1989; Whitfield, 1996) [29].
+ Xích thức ăn thẩm thấu: đƣợc khởi đầu bằng các chất hữu cơ hòa tan trong nƣớc. Những chất này đƣợc sinh ra bằng nhiều con đƣờng (tự phân hủy của xác sinh vật, sự phân giải chất hữu cơ bởi vi sinh vật). Sinh vật tiêu thụ chất hữu cơ hòa tan chính là vi khuẩn và động vật nguyên sinh, chúng sử dụng chất hữu cơ bằng con đƣờng thẩm thấu qua bề mặt cơ thể. Về phía mình chúng lại là thức ăn cho microzooplankton và ấu trùng cá.
Những loài này lại làm thức ăn cho cá nổi, cá có kích thƣớc lớn [30]. Nhƣ vậy ba xích thức ăn trên trong vùng cửa sông hoạt động đồng thời, mặc dù xích thức ăn khởi đầu bằng thực vật và tảo giữ vị trí khởi nguồn cho 2 xích thức 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học Nguyễn Thị Mai Dung ăn còn lại, song do đặc thù vùng cửa sông, xích thức ăn phế liệu đóng vai trò then chốt và quan trọng nhất trong sự chuyển tải vật chất và năng lƣợng của các hệ cửa sông, tƣơng tự nhƣ các xích thức ăn trên cạn. Sự hoạt động của các xích thức ăn trên không chỉ tạo nên hiệu suất cao mà còn đảm bảo cho RNM duy trì nguồn muối dinh dƣỡng lâu dài ngay trong chính bản thân của hệ. Vì vậy RNM đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc duy trì nguồn muối dinh dƣỡng cho sự phát triển của các loài sinh vật sống trong vùng cửa sông và đới ven bờ [30].
Sự phong phú về thức ăn trong RNM nói riêng hay vùng cửa sông nói chung làm cho nhiều loài động vật biển cũng xâm nhập vào để kiếm ăn, kéo theo đó là nhiều loài động vật trên cạn mà cuộc sống gắn liền với bãi triều. Chúng thƣờng xuất hiện đông đúc khi nƣớc ròng và phơi bãi. Chính điều này đã tạo nên tính đa dạng về thành phần loài, nhất là sự đa dạng về di truyền, tạo cho sinh vật sống ổn định trong môi trƣờng thƣờng xuyên biến động của vùng cửa sông đồng thời, giúp cho chúng tham gia vào các bậc dinh dƣỡng khác nhau của hệ thống các xích thức ăn, nhằm khai thác tối đa nguồn năng lƣợng và vật chất dƣới dạng sản phẩm sơ cấp đƣợc các sinh vật sản xuất tạo ra trong quá trình quang hợp. Phân loại và phân vùng trong các hệ cửa sông Hệ cửa sông bao gồm những thành phần cấu trúc riêng của mình.
Chúng quan hệ chặt chẽ và tƣơng tác với nhau trong một chỉnh thể, tồn tại khá ổn định trong điều kiện môi trƣờng bất ổn định của một vùng sông – biển. Dựa vào độ cao mực nƣớc biển, trong hệ cửa sông có thể phân chia thành 3 tiểu vùng: tiểu vùng trên triều (supralittoral), tiểu vùng triều (littoral), tiểu vùng dƣới triều (sublittoral). - Tiểu vùng trên triều: cao hơn mức triều cực đại và đất còn có phần bị nhiễm mặn [29]. - Tiểu vùng triều: là nơi ngập nƣớc có chu kỳ, nơi tập trung của rừng ngập mặn hoặc các bãi bùn lầy, bãi cát phẳng, bờ đá; nơi ở của những sinh vật thích nghi với lối sống nửa đất, nửa nƣớc.
Đây là nơi kiếm ăn của các loài sinh vật dƣới triều 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học Nguyễn Thị Mai Dung khi ngập nƣớc và nơi sống của các động vật trên cạn nhất là chim khi nƣớc phơi bãi [30]. - Tiểu vùng dƣới triều: chiếm diện tích lớn nhất, ngập nƣớc thƣờng xuyên thuộc phần trên của thềm lục địa, đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong các chu trình sinh học của biển [30]. Trên phạm vi rộng lớn của dải ven biển, trải dài gần 13 vĩ độ từ Bắc đến Nam xuất hiện hàng loạt các hệ sinh thái riêng biệt. Song do lịch sử hình thành, cấu trúc địa chất, đặc điểm địa mạo, lực tƣơng tác sông – biển khác nhau và tồn tại trong các điều kiện khí hậu khác nhau nên các hệ cửa sông nƣớc ta có thể đƣợc phân biệt thành mấy dạng sau: - Các cửa sông châu thổ nhƣ hệ cửa sông Hồng và sông Cửu Long.
- Các cửa sông hình phễu. - Dải đầm phá ven biển miền Trung. - Các vụng, vịnh nông ven bờ nhận nƣớc ngọt từ các sông, suối đổ ra. - Các sình lầy đƣợc phủ bởi rừng ngập mặn tây Nam Bộ.
Từ sự phân vùng và phân loại trên, chúng ta có cơ sở để định hƣớng quy hoạch khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên cho mỗi vùng một cách đúng đắn và hợp lý theo quan điểm phát triển bền vững. Đa dạng sinh học 1. Khái niệm đa dạng sinh học (ĐDSH) Thuật ngữ đa dạng sinh học (Biodiversity) ra đời từ những năm 80 của thế kỷ XX. Đến nay có ít nhất 25 định nghĩa về thuật ngữ “ĐDSH”.
Theo WWF, 1989, ĐDSH là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dƣơng và các hệ sinh thái thủy vực khác, cũng nhƣ các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần. Thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái [20]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học Nguyễn Thị Mai Dung ĐDSH đƣợc hiểu “Là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa trong các loài, là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trƣờng” [20]. ĐDSH một thuật ngữ bao gồm mọi mức độ biến đổi của thiên nhiên gồm cả số lƣợng và tần suất xuất hiện của hệ sinh thái, của loài hay gen trong một tập hợp đã biết.
Hiện nay, ĐDSH đƣợc xét ở 3 cấp độ: đa dạng về loài sinh vật, đa dạng về gen chứa trong các loài và đa dạng về hệ sinh thái. ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. ĐDSH là cơ sở của sự sống còn và thịnh vƣợng của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ƣớc tính giá trị của tài nguyên ĐDSH toàn cầu cung cấp cho con ngƣời là 33.000 tỷ đô la mỗi năm [20].
Nguồn tài nguyên ĐDSH trong tự nhiên tập trung trong các hệ sinh thái vì vậy: - Hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của mọi sự sống trên trái đất. Nó đảm bảo đƣợc sự tuần hoàn vật chất và chuyển hóa năng lƣợng thông qua chuỗi thức ăn và lƣới thức ăn trong quần xã. - Cung cấp trực tiếp lƣơng thực, thực phẩm, dƣợc liệu, nguyên liệu, nhiên liệu cho con ngƣời. - Là kho dự trữ nguồn gen quan trọng để bổ sung cho vật nuôi và cây trồng.
- Phục vụ đời sống tinh thần và đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, nâng cao tri thức khoa học và khát vọng khám phá thế giới tự nhiên [27]. ĐDSH của hệ sinh thái cửa sông Với đƣờng bờ biển dài trên 3260 Km, đi qua 13 vĩ độ khác nhau trải dài từ Móng Cái đến Hà Tiên cùng với sự phân hóa cao về các điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn, sự tƣơng tác sông biển,… mức độ ĐDSH vùng cửa sông ven biển ở Việt Nam rất cao. Các sinh cảnh sống đặc trƣng của khu vực này bao gồm: cửa các con sông, các bãi triều, RNM, chuỗi các đầm phá, vùng vịnh nông ven bờ,… đã phản ánh đƣợc sự phong phú về hệ sinh thái cũng nhƣ sự đa dạng về thành phần loài sống trong khu vực. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học Nguyễn Thị Mai Dung Các nghiên cứu về khu hệ động – thực vật của vùng cửa sông Vịnh Bắc Bộ cho thấy: * Thực vật nổi (Phytoplankton): tại các cửa sông Thái Bình, Diêm Điền và Trà Lý đã thống kê đƣợc 129 loài thuộc 53 chi, trong đó tảo silic chiếm 86,8% số lƣợng loài (Khúc Ngọc Cầm, 1975).
Còn ở cửa sông Ba Lạt, cửa Ninh Cơ, cửa Đáy có 110 loài, 3 biến dạng và 12 biến loài, trong đó tảo silic cũng chiếm ƣu thế (Trƣơng Ngọc An và nnk, 1985). Những đợt khảo sát tổng hợp vùng nƣớc cửa sông từ Văn Úc đến Ba Lạt, tại các trạm cố định, từ nơi có nồng độ muối 0,1‰ trong các triền sông tới vùng biển vên bờ có độ muối 31,0‰, ứng với độ sâu 20 - 30m bao gồm cả các đầm nuôi thủy sản ven bờ đã thống kê đƣợc 183 loài trong đó ở vùng biển 180 loài, còn tại các đầm nuôi thủy sản là 124 loài đƣợc thể hiện ở bảng 1. Thành phần các chi và loài thực vật nổi cửa sông Hồng- Thái Bình [30] Trong các đầm Ngoài biển Tên khoa học Các chi Các loài Các chi Các loài n % n % n % n % Ngành tảo silic: 37 74,0 100 80,6 46 77,9 155 86,1 - Lớp trung tâm 16 32,0 48 38,7 25 42,4 100 55,6 - Lớp lông chim 21 42,0 52 41,9 21 35,5 55 30,5 Ngành tảo Giáp 2 4,0 52 41,9 21 35,5 55 30,5 Ngàn tảo Lam 5 10,0 8 6,4 5 8,5 8 4,4 Ngành tảo Lục 6 12,0 7 5,7 6 10,1 7 3,9 Tổng cộng 50 100 124 100 59 100 180 100 * Động vật nổi (Zooplankton): những khảo sát tại vùng cửa sông bắc cửa Ba Lạt (Vũ Trung Tạng và nnk, 1985) đã phát hiện 167 loài cùng 18 dạng ấu trùng của các nhóm động vật không xƣơng sống khác. Trong đó Copeoda có 107 loài chiếm 57,8% tổng số, Cladocera có 14 loài chiếm 7,5%, Siphonophora có 8 loài chiếm 4,3%, Chaetognatha có 8 loài chiếm 4,3%, Amphipoda có 6 loài chiếm 3,2%, Tunicada có 6 loài chiếm 3,2%, Protozoa có 5 loài chiếm 2,8%, Ostracoda có 4 loài 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.