phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tiền lƣơng và phƣơng thức trả lƣơng Chƣơng 2. Phƣơng thức trả lƣơng tại Công ty cổ phần COMA 18 Chƣơng 3. Đề xuất một số hình thức trả lƣơng mới đối với Công ty cổ phần COMA 18 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ PHƢƠNG THỨC TRẢ LƢƠNG 1. Khái niệm tiền lương Tiền lƣơng là giá trị mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động (hoặc ngƣời lao động nhận đƣợc từ ngƣời sử dụng lao động), có thể biểu hiện bằng tiền, hàng hóa… Trong nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trƣờng, dựa trên giá trị sức lao động trên thị trƣờng, hai bên thƣơng lƣợng, đàm phán để thống nhất về phƣơng thức trả lƣơng và mức lƣơng. Tiền lƣơng luôn là những điều kiện tiên quyết, là mối quan tâm hàng đầu đối với các bên trong hợp đồng lao động. Tiền lƣơng vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội, vừa là một quan hệ, vừa là một công cụ hạch toán và đòn bẩy kích thích năng suất lao động xã hội.
Dƣới góc độ lý thuyết, tiền lƣơng có thể đƣợc tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau. Dƣới góc độ Luật học, tiền lƣơng là khoản tiền trả cho khế ƣớc thuê và sử dụng sức lao động giữa ngƣời thuê và ngƣời cho thuê. Góc nhìn này nhấn mạnh sự ràng buộc giữa quyền lợi và nghĩa vụ: Ngƣời trả lƣơng và ngƣời nhận lƣơng bình đẳng với nhau về quyền lợi và trách nhiệm. Tiền lƣơng không phải là sự cho không, cũng không phải là một khoản bố thí dƣới bất kỳ hình thức nào.
Tiền lƣơng gắn với khế ƣớc dƣới dạng hợp đồng lao động đã đƣợc ký kết. Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại thì mức lƣơng mà một cá nhân nhận đƣợc do cung cấp một số giờ lao động tối thiểu quy định trong hợp đồng lƣơng Theo cách hiểu này, ngƣời lao động có quyền nhận một mức tiền lƣơng nhất định khi họ đồng ý cung ứng một đơn vị thời gian lao động nào đó, hoặc thực hiện một công việc nào đó theo yêu cầu của ngƣời thuê sức lao động. Ngƣời thuê phải có trách nhiệm thanh toán tiền lƣơng một khi họ nhận đƣợc sự cung ứng lao động từ ngƣời làm thuê theo thoả thuận. Động cơ, mục đích của bên 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mua, bên bán ẩn dấu đằng sau những điều khoản đã đƣợc thỏa thuận, thống nhất trong hợp đồng lao động.
Theo các nhà kinh doanh, những ngƣời làm kế toán, tiền lƣơng là một yếu tố của tổng chi phí của doanh nghiệp. Kế toán không có nhiệm vụ phải phân biệt bản chất kinh tế - xã hội của các yếu tố đầu vào, mà gộp chung gọi là chi phí (Cost). Tiền lƣơng là một phần trong các chi phí đó. Với quan niệm nhƣ vậy, tiền lƣơng đã khoả lấp sự bình đẳng giữa các bên trong quan hệ lao động để nhấn mạnh đến sự hiện hữu của những chi phí mà ngƣời thuê sức lao động phải bỏ ra.
Dƣờng nhƣ ở đây, trách nhiệm của ngƣời thuê sức lao động là chủ yếu vì không khẳng định những lợi ích mà họ có thể nhận đƣợc. Họ là ngƣời tạo công ăn, việc làm và trả lƣơng. Ngƣời bán sức lao động bị ràng buộc vào sự đánh giá chủ quan của ngƣời thuê sức lao động thông qua kết quả có thể đạt đƣợc của quá trình lao động. Tất nhiên, khái niệm chi phí là đúng về phía chủ doanh nghiệp - ngƣời thuê sức lao động.
Tiền lƣơng là tiền trả cho yếu tố sức lao động mà họ thuê, là ngang giá của sức lao động trên thị trƣờng lao động. Đối với họ, mua sức lao động cũng nhƣ mua mọi đầu vào khác, đều xuất phát từ các ý đồ sản xuất kinh doanh. Vì vậy, họ không phân biệt tính chất khác nhau trong việc sử dụng các yếu tố này cho sản xuất, mà gọi chúng đều là các chi phí. Những ngƣời bán sức lao động cũng có quyền xem tiền lƣơng nhƣ tiền trả cho các hao phí về thể lực và trí lực sau mỗi quá trình lao động.
Tiền trả sẽ càng cao nếu khối lƣợng hao phí càng lớn hoặc là những điều kiện, trong đó ngƣời lao động làm việc là khó khăn. Kinh tế học cũng quan niệm tiền lƣơng là chi phí cho lao động với tính cách là một nguồn đầu vào. Họ cũng nhất trí rằng, chủ doanh nghiệp có lợi ích là đƣợc toàn quyền sử dụng sức lao động trong một số đơn vị thời gian nào đó, là điều kiện giúp thực hiện ý đồ kinh doanh. Vì thế, chủ doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh toán tiền công - tiền lƣơng.
Sự trả lƣơng của chủ doanh nghiệp cho ngƣời lao động dựa trên hợp đồng lao động và ít phụ thuộc vào những tác động trực tiếp từ các rủi ro kinh tế đối với doanh nghiệp. Về nguyên tắc, những 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thoả thuận trong việc thuê và cho thuê sức lao động điễn ra ngoài và trƣớc mỗi quá trình lao động. Những điều khoản của thoả thuận cũng hầu nhƣ không ràng buộc tiền lƣơng của ngƣời lao động với các rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt. Những chi phí thể lực và trí lực của ngƣời lao động cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều phải đƣợc thanh toán, bất luận hiện trạng kinh doanh của doanh nghiệp ra sao.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, tiền lƣơng chịu sự chi phối của rất nhiều nhân tố, cả khách quan và chủ quan, trong đó có những nhân tố có tính quyết định. Chẳng hạn, chất lƣợng lao động, đƣợc biểu hiện bởi trình độ năng lực, kinh nghiệm; sức mạnh của các nghiệp đoàn mà những ngƣời lao động là thành viên; tình hình cung cầu trên thị trƣờng lao động; quy định của luật pháp trong việc thuê, sử dụng sức lao động; tƣơng quan tiền lƣơng trên thị trƣờng và giữa các doanh nghiệp; khả năng tài chính của doanh nghiệp… Khái niệm tiền lƣơng cần bao quát đƣợc quyền và trách nhiệm của các bên liên quan trong hợp đồng lao động, vừa là chi phí của doanh nghiệp, vừa là thu nhập của ngƣời lao động, vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội. Vì vậy có thể hiểu, Tiền lương trong doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người chủ doanh nghiệp thoả thuận trả cho người lao động, căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động, vào giá thuê sức lao động trên thị trường và những quy định hiện hành của luật pháp. Để hiểu đầy đủ khái niệm tiền lƣơng, ngƣời ta còn đề cập đến các khái niệm tiền lƣơng, lƣơng tối thiểu, tiền lƣơng kinh tế, tiền lƣơng thực tế, tiền lƣơng danh nghĩa - không thể hiểu đây là những tên gọi khác của tiền lƣơng, mà mỗi khái niệm đều hàm chứa những ý nghĩa kinh tế - xã hội riêng biệt.
Tiền công: chỉ là một biểu hiện của tiền lƣơng phản ánh chân thực hơn quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thƣờng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc các hợp đồng dân sự thuê mƣớn lao động. Khái niệm này đƣợc sử dụng phổ cập trong những thỏa thuận thuê công nhân trên thị trƣờng tự do và còn đƣợc gọi là giá công lao động trả cho một đơn vị thời gian 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lao động cung ứng hoặc hoàn thành một khối lƣợng công việc nhất định trong khoảng thời gian ngắn. Tiền lƣơng tối thiểu đƣợc C.Mác đề cập đến nhiều, đặc biệt trong bộ tƣ bản, dƣới thuật ngữ “mức lƣơng xã hội tối thiểu”. Theo Mác, đây là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời công nhân có thể mua đƣợc những hàng hoá, dịch vụ cho phép thoả mãn các nhu cầu xã hội tối thiểu, để đảm bảo duy trì sức lao động cho ngƣời lao động.
Nhu cầu tối thiểu lại phụ thuộc vào mức sống tối thiểu của xã hội, và tiền lƣơng nhằm đảm bảo khả năng tái sản xuất giản đơn sức lao động. Khi nền kinh tế đạt đƣợc trình độ phát triển cao hơn, mức sống tối thiểu chung của xã hội nâng lên, mức lƣơng tối thiểu cũng phải tăng lên. Tiền lƣơng tối thiểu ở nhiều quốc gia đƣợc hiểu nhƣ ngƣỡng mà mọi doanh nghiệp, mọi tổ chức có sử dụng sức lao động không đƣợc trả lƣơng thấp hơn và đƣợc luật hoá. Điều 91 Chƣơng VI Bộ Luật lao động nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã ghi: “Mức lƣơng tối thiểu là mức thấp nhất trả cho ngƣời lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thƣờng và phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của ngƣời lao động và gia đình họ.
Mức lƣơng tối thiểu đƣợc xác định” [Số 19, trang 28] và Điều 90 của Bộ luật lao động cũng ghi: “Tiền lƣơng là khoản tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lƣơng bao gồm mức lƣơng theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác. Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Chính phủ quy định. Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động căn cứ vào năng suất lao động, chất lƣợng công việc” [Số 19, trang 28].
Khi luật pháp bảo hộ mức lƣơng tối thiểu, cũng có nghĩa là, chính sách tiền lƣơng tối thiểu đã trở thành lƣới bảo đảm xã hội, chống sự bóc lột quá mức ngƣời lao động và hạn chế sự phân hoá xã hội về thu nhập, chống đói nghèo. Tiền lƣơng tối thiểu cũng là điều kiện để thống nhất các thị trƣờng lao động trong nội bộ quốc gia, cũng nhƣ hội nhập thị trƣờng quốc gia với thị trƣờng khu vực và thế giới. Tuy đã đạt đƣợc nhiều ƣu việt trong việc luật hoá và vận hành chính sách tiền lƣơng tối thiểu, đặc biệt ở những nƣớc 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình độ kinh tế - xã hội còn kém phát triển và ngƣời lao động còn bị nhiều sức ép từ phía thị trƣờng, ở vào “thế yếu” trong các thƣơng lƣợng về tiền lƣơng, nhƣng một số nhà kinh tế vẫn tỏ ý hoài nghi về tính hiệu quả của chính sách tiền lƣơng tối thiểu, thậm chí phản đối. Lý do chính là, tiền lƣơng tối thiểu một khi đƣợc luật pháp bảo hộ, có thể trở nên “cứng nhắc”, mất khả năng thích ứng, có thể làm triệt tiêu tính linh hoạt của thị trƣờng, ảnh hƣởng tiêu cực đến cung và cầu lao động, đến trạng thái cân bằng của thị trƣờng vốn do những quy luật khách quan điều tiết.