CHƯƠNG 1 Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong nước và với các ngân hàng nước ngoài do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghệ 4. Các ngân hàng trong nước có triển khai phát triển các sản phẩm dịch vụ nhưng chất lượng, hiệu quả chưa cao. Trong khi đó các ngân hàng nước ngoài với nền tảng tài chính vững chắc, công nghệ sẵn có và giàu kinh nghiệm đã và đang triển khai nhanh chóng các hoạt động cung ứng dịch vụ tại Việt Nam. Mặt khác, các NHTM Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức do phụ thuộc quá nhiều vào nguồn thu từ hoạt động tín dụng.
Đa dạng hóa là cách thức hiệu quả nhất giúp gia tăng nguồn thu từ dịch vụ, thay đổi cơ cấu nguồn thu nhập của NHTM. Với mong muốn tìm ra các yếu tố có khả năng tác động đến đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng để đưa ra chiến lược quản trị phù hợp, dựa trên mô hình của My Nguyen, Michael Skully và Shrimal Perera (2012) trong nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng và đa dạng hóa doanh thu: Dẫn chứng từ các nước ASEAN” được đăng trên tạp chí Journal of Asian Economic, đề tài tập trung phân tích tác động của nhóm yếu tố chủ quan, có thể đo lường được như quy mô, hiệu quả chi phí hoạt động, tỷ lệ nợ xấu, mức độ vốn hóa của ngân hàng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM với mô hình hồi quy dữ liệu bảng và phương pháp hồi quy 03 bước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HÓA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM. Khái niệm về dịch vụ, thu nhập từ dịch vụ và đa dạng hóa dịch vụ NHTM Trong marketing, Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó; Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền”.
Ngân hàng là một dạng kinh doanh ngoại tệ, thu phí của khách hàng, gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế bằng việc đáp ứng các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho khách hàng. Đứng trên góc độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng, dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Cụ thể là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, cất trữ tài sản… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các quốc gia phát triển hiện nay, ngân hàng được coi là một siêu thị dịch vụ, với hàng trăm, hàng ngàn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của ngân hàng.
Phân loại theo bản chất của ngân hàng thương mại, theo Nguyễn Thị Nhung và Lê Thị Tuyết Hoa (2010), Ngân hàng thương mại thực hiện ba nghiệp vụ cơ bản, đó là nghiệp vụ tài sản nợ, nghiệp vụ tài sản có và nghiệp vụ trung gian hoa hồng. Nghiệp vụ tài sản nợ: gồm Huy động vốn tiền gửi cá nhân, tổ chức dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn; Phát hành các giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng, kỳ phiếu; Vay NHTM khác. Nghiệp vụ tài sản có: Ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình vào các hoạt động như Ngân quỹ; Cấp tín dụng: dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, Bảo lãnh ngân hàng,…Nghiệp vụ cấp tín dụng chiếm tỷ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 trọng lớn nhất trong nghiệp vụ tài sản có, lợi nhuận của NHTM chủ yếu được sinh ra từ nghiệp vụ này; Đầu tư dưới các hình thức như: Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty; hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng. Hoặc Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty…Kinh doanh ngoại tệ.
Nghiệp vụ trung gian hoa hồng: Khi thực hiện nghiệp vụ trung gian hoa hồng, ngân hàng không cho khách hàng vay cũng không đầu tư, mà ngân hàng làm trung gian cung ứng các dịch vụ ngân hàng nhằm thực hiện những ủy nhiệm của khách Phát hành thư tín dụng, bảo lãnh. Việc thực hiện các nghiệp vụ trung gian không những mang lại cho ngân hàng thu nhập mà còn tạo điều kiện mở mang các nghiệp vụ tài sản nợ, tài sản có và nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường. Về cơ bản, có hai hình thức thu nhập; thu nhập lãi và thu nhập dịch vụ hay còn gọi là thu nhập ngoài lãi. Báo cáo thu nhập của ngân hàng bao gồm một phần riêng cho loại thu nhập thứ hai (thu nhập ngoài lãi).
Các nguồn thu nhập từ dịch vụ điển hình bao gồm phí dịch vụ trên tài khoản tiền gửi, phí tín dụng, giao dịch chứng khoán và lợi nhuận tài khoản giao dịch (thua lỗ). Bailey (2010) cho rằng các thành phần của thu nhập ngoài lãi tại các ngân hàng Jamaica bao gồm phí dịch vụ, phí giao dịch, hoa hồng, cổ tức và lợi nhuận kinh doanh chứng khoán, lãi và lỗ chênh lệch tỷ giá và thu nhập khác. DeYoung và Rice (2003) cho rằng hiệu quả tài chính liên quan đến chiến lược kinh doanh, thay đổi và tiến bộ công nghệ, điều kiện thị trường và quan trọng nhất là thu nhập từ dịch vụ trong một nghiên cứu được thực hiện trên các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ. Cũng theo De Young and Rice, thu nhập từ dịch vụ chiếm 40% thu nhập hoạt động trong ngành ngân hàng thương mại Hoa Kỳ.
Bian và cộng sự (2015) kết luận rằng các ngân hàng ngày càng phụ thuộc vào thu nhập từ dịch vụ để tồn tại và tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Stiroh (2002) đã thực hiện cuộc khảo sát để tìm ra nguyên nhân ngành ngân hàng Hoa Kỳ không ngừng gia tăng sự phụ thuộc vào các hoạt động kinh doanh phi truyền thống tạo ra các thu nhập từ phí, doanh thu giao dịch và thu nhập phi lãi khác. Stiroh giả định rằng có những lợi ích cho sự đa dạng hóa tiềm năng từ sự thay đổi này. Khi biến động doanh thu thuần giảm, nó phản ánh biến động giá cắt giảm của thu nhập LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Lý do thu nhập phi lãi trở nên tương quan hơn với thu nhập lãi ròng và biến động nhiều hơn là kết quả của những lợi thế của đa dạng hóa. Dựa trên đánh giá tài liệu trước đây về thu nhập phi lãi và tác động của nó đến hiệu quả tài chính, kết luận rằng thu nhập phi lãi và thu nhập từ lãi cùng tồn tại, thay vì thay thế nhau để tăng hiệu quả tài chính của ngân hàng. Mỗi nghiên cứu đã xem xét các biến số khác nhau để xem xét một số trong đó là quy mô ngân hàng, mức độ an toàn vốn, hiệu quả hoạt động và quản lý tài sản. Nằm trong xu hướng phát triển của các NHTM trên thế giới, Các NHTM hiện nay đang dần chuyển dịch cơ cấu lợi nhuận của họ từ hoạt động tín dụng sang hoạt động phi tín dụng ở các mảng như: các dịch vụ liên quan đến thanh toán điện tử và thẻ, phát hành L/C, bảo hiểm, bảo lãnh, môi giới/ bảo lãnh phát hành chứng khoán thông thường và chứng khoán phái sinh, kinh doanh ngoại tệ…Chính vì vậy, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng được các NHTM trên thế giới chú trọng để gia tăng nguồn thu dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của mình.
Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng là việc ngân hàng nghiên cứu, thăm dò thị trường nhằm tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính khác nhau để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của khách hàng nhằm mang lại lợi nhuận nhiều hơn và giúp phân tán rủi ro so với hoạt động tín dụng truyền thống. Dịch vụ NHTM Theo David Cox trong Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại hiện đại, hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng. Cụ thể hơn, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán… mà ngân hàng cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khác hàng, nhờ đó ngân hàng tạo được nguồn thu từ chênh lệch lãi suất, tỷ giá hoặc nguồn thu từ phí. Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất trong các loại hình dịch vụ tài chính; và nó là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính.
Có nhiều cách phân loại dịch vụ Ngân hàng thương mại. Nếu phân loại theo tính chất dịch vụ, NHTM gồm 02 hoạt động chính, đó là dịch vụ tín dụng tạo ra thu nhập từ lãi và dịch vụ phi tín dụng (dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tự, dịch vụ tư vấn tài chính,…) tạo ra thu nhập phi lãi hay còn gọi là thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ. Dựa theo cách thức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cung cấp dịch vụ, dịch vụ NHTM gồm 02 loại: dịch vụ ngân hàng bán buôn (cung cấp thông qua các trung gian tài chính các NHTM, các quỹ…hoặc thông qua thị trường tài chính như thị trường tiền tệ liên NH để cho vay, thanh toán bù trừ… và đối với các công ty, tập đoàn kinh tế lớn với những gói DV giá trị lớn) và dịch vụ ngân hàng bán lẻ (cung cấp trực tiếp đến các cá nhân, gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa và một số gói DV nhỏ lẻ đối với các công ty, tổ chức kinh tế lớn). Phân loại theo thời gian xuất hiện, dịch vụ NHTM được chia thành 02 loại dịch vụ ngân hàng truyền thống và dịch vụ ngân hàng hiện đại.
Dịch vụ Ngân hàng truyền thống là những loại hình dịch vụ có quá trình hình thành và phát triển lâu dài như huy động vốn; cho vay; chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá; thanh toán, trao đổi ngoại tệ; ngân quỹ; ủy thác; chuyển tiền; bảo lãnh.