Luận văn: Nghiên cứu thành phần loài cây dược liệu tại VQG Phia Oắc - Phia Đén

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây dược liệu tại VQG Phia Oắc - Phia Đén. Phân tích, thống kê các loài cây thuốc quý hiếm.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2019

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Vườn quốc gia Phia Oắc Phia Đén

Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén là một khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, được thành lập để bảo vệ đa dạng sinh học và các loài cây dược liệu quý hiếm. Vườn quốc gia này sở hữu một hệ thống thảm thực vật phong phú với nhiều trạng thái khác nhau bao gồm rừng thứ sinh, rừng trồng thông, thảm cây bụi và thảm cỏ. Nằm tại vị trí chiến l略địa lý độc đắc với địa hình đồi núi đa dạng, đây là nơi trú ngụ của hàng trăm loài cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền Việt Nam. Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng thành phần loài cây dược liệu tại đây có giá trị cao về mặt sinh học và y tế. Việc bảo tồn và khai thác bền vững cây dược liệu tại vườn quốc gia này là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ di sản thiên nhiên cho thế hệ tương lai.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên

Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén nằm tại huyện Nguyên Bình với địa hình núi cao, có độc đáo về khí hậuthổ nhưỡng. Khu vực có lượng mưa cao quanh năm, độ ẩm thích hợp cho sự phát triển của đa dạng cây thuốc. Điều kiện tự nhiên này tạo nên một sinh thái đặc thù với thảm thực vật phong phú, là nơi lý tưởng để các loài cây dược liệu phát triển và sinh sôi.

1.2. Ý nghĩa bảo tồn và phát triển

Bảo tồn đa dạng cây thuốc tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng. Điều này giúp lưu giữ quỹ gen của các loài cây dược liệu quý hiếm, hỗ trợ nghiên cứu khoa học và phát triển y dược hiện đại. Đồng thời, việc bảo vệ vườn quốc gia còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái toàn cầu.

II. Đa dạng thành phần loài cây thuốc

Nghiên cứu thành phần loài cây dược liệu tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén đã phát hiện một số lượng lớn các loài cây thuốc thuộc nhiều họ thực vật khác nhau. Đa dạng ở mức độ họ cho thấy sự phong phú của thành phần loài cây dược liệu, với các họ thực vật như Araliaceae, Annonaceae, Euphorbiaceae và nhiều họ khác. Tại đây cũng phát hiện được các loài cây quý hiếm có giá trị cao trong y học cổ truyềny học hiện đại. Đa dạng ở mức độ chi càng phản ánh rõ hơn sự đa dạng di truyền của các loài cây thuốc. Các loài cây dược liệu này phân bố ở các trạng thái thảm thực vật khác nhau, từ rừng thứ sinh đến rừng trồng thông, tạo nên một hệ thống bảo tồn cây thuốc tự nhiên.

2.1. Phân loại theo họ thực vật

Các loài cây dược liệu tại vườn quốc gia được phân loại theo họ thực vật khác nhau. Mỗi họ bao gồm nhiều chiloài với đặc điểm, tính năng chữa bệnh riêng. Đa dạng ở mức độ họ cao giúp khai thác tối đa tài nguyên cây thuốc cho y dược truyền thống.

2.2. Sự phân bố theo các trạng thái thảm thực vật

Loài cây thuốc phân bố khác nhau ở các trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng trồng thôngrừng thứ sinh. Mỗi trạng thái thảm thực vậtđa dạng thành phần loài riêng biệt, phản ánh sự thích nghi của cây dược liệu với điều kiện môi trường cụ thể.

III. Đặc điểm dạng sống và bộ phận làm thuốc

Các loài cây thuốc tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đénđa dạng về dạng sống với các kiểu hình thái như cây thân gỗ, cây thân lùn, cây leo và cây cỏ. Đa dạng về kiểu dạng cây này phản ánh sự thích nghi của cây dược liệu với các điều kiện môi trường khác nhau trong vườn quốc gia. Đa dạng về các bộ phận làm thuốc rất lớn, bao gồm rễ, thân, lá, hoa, quả, hạt và vỏ cây. Các bộ phận làm thuốc này được sử dụng theo những công thức y học cổ truyền khác nhau. Mỗi loài cây thuốc có những đặc tính chữa trị riêng, từ chữa sốt rét, ho, tiêu viêm, bổ máu cho đến chữa các bệnh ung thư và tiểu đường. Hiểu rõ về dạng sốngbộ phận làm thuốc giúp tối ưu hóa việc khai thác bền vững các loài cây dược liệu này.

3.1. Các kiểu dạng sống của cây thuốc

Đa dạng về dạng sống bao gồm cây thân gỗ (cây gỗ), cây bụi, cây cỏ và cây leo. Mỗi kiểu dạngthích nghi khác nhau với điều kiện ánh sáng, độ ẩmđộ cao trong vườn quốc gia, giúp các loài cây thuốc sinh tồn trong thảm thực vật đa dạng.

3.2. Bộ phận cây dùng làm thuốc

Các bộ phận làm thuốc chủ yếu là rễ, thân, lá và quả. Mỗi bộ phận chứa những hoạt chất khác nhau với tác dụng chữa bệnh riêng biệt. Việc sử dụng chính xác bộ phận cây là chìa khóa để tăng hiệu quả y dược cổ truyềnbảo tồn loài.

IV. Giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững

Để bảo vệ đa dạng cây thuốc tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, cần thực hiện những giải pháp bảo tồn toàn diện. Trước hết, cần xây dựng danh lục các loài cây quý hiếm để theo dõi và bảo vệ các loài cây dược liệu có nguy cơ tuyệt chủng. Nghiên cứu bài thuốc truyền thống sử dụng các loài cây dược liệu này giúp bảo tồn kiến thức y dược dân tộc. Việc phát triển bền vững các loài cây thuốc cần kết hợp giữa bảo tồn tự nhiên và khai thác hợp lý tài nguyên. Cộng đồng địa phương cần được tham gia vào các dự án bảo tồn cây thuốc để vừa bảo vệ môi trường vừa cải thiện kinh tế địa phương. Các chương trình giáo dục môi trườngđào tạo kỹ năng sẽ nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đa dạng sinh học.

4.1. Xác định và bảo vệ các loài cây quý hiếm

Lập danh sách các loài cây thuốc quý hiếmloài cây dược liệu có nguy cấp cao là bước quan trọng. Cần theo dõi tình trạng quần thể, xây dựng khu bảo tồn đặc biệt cho các loài cây nguy cấptái tạo cây thuốc bị thoái hoá để đảm bảo bảo tồn đa dạng sinh học.

4.2. Phát triển kinh tế địa phương thông qua cây thuốc

Khuyến khích trồng cây dược liệu bền vững, hỗ trợ chế biến sản phẩm cây thuốcphát triển du lịch sinh thái giúp kinh tế địa phương phát triển. Kết hợp bảo tồn cây thuốc với phát triển kinh tế tạo động lực mạnh mẽ cho cộng đồng tham gia bảo vệ vườn quốc giađa dạng cây dược liệu.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu đa dạng loài cây dược liệu nhằm mục đích bảo tồn nguồn tài nguyên này trên thế giới để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề cấp thiết. Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai. Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng.

Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc. Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một vấn đề chiến lược trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời IUCN, Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP),Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF).để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn thế giới. Năm 1993, Tổ chức Y tế thế giới WHO đã phối hợp với Hiệp hội Bảo tồn thế giới IUCN và Quỹ Thiên nhiên toàn thế giới WWF xuất bản cuốn tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc” (Guidelines on The Conservation of Medicinal Plants) để các quốc gia vận dụng vào điều kiện riêng của mình triển khai công tác bảo tồn cây thuốc.

Hiện nay, ước tính có khoảng 2000 vườn thực vật trên toàn thế giới, phần lớn nằm ở Tây Âu (500 vườn) và Bắc Mỹ (350 vườn). Châu Á có khoảng 300 vườn thực vật, chủ yếu ở Trung Quốc có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh. Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại. Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh.

Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, hóa sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các loại cây thuốc theo từng địa phương như Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 “Giang Tô tỉnh tực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” …(Dẫn theo Trần Hồng Hạnh,1996). Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của người Trung Quốc có giá tới 2000-5000 USD/ Kg. Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang lại một nguồn lợi kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm xóa bỏ đói nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002). Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện Vệ sinh dịch tể công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc”.

Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc với nội dung đề cấp là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần hóa học (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002). Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả. Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của Thảo quả. Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002).

Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006). Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn.

Arasimovich… đã nghiên cứu thành công công trình “Phương pháp nghiên cứu hóa sinh – sinh lý cây thuốc”. Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc. Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc”. Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khỏe của con người.

Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005).Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có nhiều đóng góp cho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005). Tổng quan kết quả nghiên cứu ở Việt Nam Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, cũng như sự phong phú về tri thức sử dụng cây cỏ. Theo kết quả của viện Dược liệu (Bộ y tế) kết quả điều tra từ năm 1991 đến năm 2004 đã ghi nhận được ở nước ta có 3948 loài cây thuốc thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao cũng như bậc thấp, trong số 3948 loài cây thuốc này phần lớn được ghi nhận từ kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở khắp các địa phương. Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây có ích, được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, nhuộm, vv.200 loài cây cỏ và nấm đã được ghi nhận là có giá trị hay tiềm năng làm thuốc.

Nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là (i) Đông Bắc, (ii) Hoàng Liên Sơn, (iii) Cúc Phương, (iv) Bạch Mã, (v) Tây Nguyên, (vi) Cao nguyên Đà Lạt. Theo thống kê của ngành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Dược, cả nước có khoảng 40 bệnh viện y học cổ truyền và các khoa y học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa.000 người hành nghề thuốc y học cổ truyền với gần 4.000 cơ sở chuẩn trị đông y. Có khoảng 700 loài thường được nhắc đến trong sách đông y, sách về cây thuốc, 150-180 vị thuốc thường được sử dụng ở các bệnh viện y học cổ truyền, lương y, 120 loài thường được nhân dân sử dụng như các cây thuốc thông thường để chữa bệnh trong gia đình, nhu cầu dược liệu cho y học cổ truyền khoảng 30. Việt Nam có một nền y học cổ truyền hết sức đa dạng, đặc sắc với bề dày lịch sử hàng nghìn năm và từ đó hình thành nên nền y học dân tộc không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử.

Trong đó, nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nghiên cứu cây dược liệu không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, làm phong phú thêm tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của cả dân tộc mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các căn bệnh hiểm nghèo. Đây thực sự là một hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai. Hiện nay, nhiều loài cây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác quá nhiều. Vì vậy cần phải có biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hoá thực trạng sử dụng cây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Theo Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc cổ truyền (CREDEP) từ trước đến nay nhiều địa phương trong nước đã có truyền thống trồng cây thuốc và có nhiều nghiên cứu về thuốc như: Quế (ở Cao Bằng , Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi…), Hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu…), Hòe (ở Thái Bình), vv…Có những làng chuyên trồng thuốc như Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Văn Lâm, Hưng Yên). Gần đây nhiều loài thuốc ngắn ngày cũng được trồng thành công trên quy mô lớn như: Bạc Hà, Ác Ti sô, Cúc Hoa, Địa Liên, Gấc, Hương Nhu, Ích Mẫu, Kim Tiền Thảo, Mã Đề, Sả, Thanh Cao hoa vàng, Ý Dĩ , vv… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Gs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ