Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa với địa hình phân hóa phức tạp và mạng lưới sông ngòi dày đặc, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao. Trong đó, khu hệ lưỡng cư nói chung và họ Ếch cây (Rhacophoridae) nói riêng liên tục được ghi nhận thêm nhiều loài mới qua các giai đoạn nghiên cứu. Theo số liệu của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009), Việt Nam có 176 loài lưỡng cư, trong đó họ Ếch cây chiếm 48 loài thuộc 9 giống; từ năm 2010 đến năm 2018, các nhà khoa học đã phát hiện và mô tả thêm 20 loài ếch cây mới. Tuy nhiên, dưới áp lực gia tăng từ các hoạt động nhân sinh như săn bắt, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng và thu hẹp sinh cảnh tự nhiên, quy mô quần thể của nhiều loài động vật hoang dã đang bị suy giảm nghiêm trọng.

Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động (tỉnh Thanh Hóa) được thành lập theo Quyết định số 87/QĐ-UBND ngày 08/01/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Khu bảo tồn có tổng diện tích vùng lõi là 646,95 ha (gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 502,84 ha và phân khu phục hồi sinh thái 144,11 ha), đại diện cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi còn sót lại ở vùng đất thấp miền Bắc Việt Nam. Trước thời điểm nghiên cứu này, các công trình điều tra sinh học tại khu bảo tồn còn tương đối hạn chế: khảo sát của Ngô Xuân Nam và cộng sự (2013) mới chỉ tập trung vào khu hệ thú; báo cáo chuyên đề của Đồng Thanh Hải và cộng sự (2016) bước đầu ghi nhận 23 loài ếch nhái nhưng mới chỉ xác định được 04 loài thuộc họ Ếch cây. Nhằm bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh vật rừng, đề tài khóa luận tốt nghiệp "Đa dạng các loài ếch cây tại khu bảo tồn các loại hạt trần quý, hiếm Nam Động - tỉnh Thanh Hóa" đã được triển khai.

Mục tiêu chung của đề tài là cung cấp nguồn tư liệu khoa học về thành phần loài ếch cây và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn Nam Động. Cụ thể, nghiên cứu thực hiện 6 mục tiêu và nhiệm vụ:

  1. Xác định thành phần loài ếch cây tại Khu bảo tồn Nam Động.
  2. Mô tả đặc điểm hình thái và phân loại các loài ếch cây ghi nhận mới tại khu vực điều tra.
  3. Đánh giá tính đa dạng và sự phân bố của các loài ếch cây theo sinh cảnh và đai độ cao, đồng thời so sánh dữ liệu với các khu bảo tồn có sinh cảnh tương đồng.
  4. Xác định giá trị bảo tồn của các loài ếch cây ghi nhận tại khu vực nghiên cứu.
  5. Tìm hiểu và nhận diện các mối đe dọa tác động trực tiếp và gián tiếp đến quần thể ếch cây.
  6. Đề xuất, kiến nghị các biện pháp quản lý, bảo tồn các loài ếch cây tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là các loài thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae). Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm toàn bộ khu vực vùng lõi (646,95 ha) và dải rừng giáp ranh thuộc vùng đệm của Khu bảo tồn Nam Động (thuộc địa bàn xã Nam Động, huyện Quan Hóa và các xã lân cận gồm Sơn Lư, Sơn Điện, Trung Thượng thuộc huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa), nằm trong tọa độ địa lý từ 20°18'07" đến 20°19'38" vĩ độ Bắc và từ 104°52'08" đến 104°53'26" kinh độ Đông. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được triển khai qua 03 đợt điều tra: đợt 1 từ ngày 25/04/2017 đến 03/06/2017; đợt 2 từ ngày 05/07/2017 đến 15/07/2017; và đợt 3 từ ngày 17/04/2018 đến 04/05/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý thuyết phân loại học, nghiên cứu dựa trên các tài liệu chuyên ngành và khóa định loại chuẩn về lưỡng cư của Bourret (1942), Taylor (1962), Matsui và cs. (1986), Ohler & Delorme (2006), Bain và cs. (2009), Rowley và cs. (2011), Ziegler và cs. (2001), Orlov và cs. (2012), Luu và cs. (2013, 2014) và Hecht và cs. (2013). Hệ thống danh pháp và phân loại khoa học được cập nhật theo Nguyễn Văn Sáng và cs. (2009) cùng cơ sở dữ liệu Amphibian Species of the World của Frost (2018). Tình trạng bảo tồn loài được tra cứu và đối chiếu theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ thế giới IUCN (2017, 2018).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý số liệu bao gồm các bước:

  • Phương pháp điều tra sơ thám và thiết lập tuyến: Dựa trên bản đồ địa hình và hiện trạng thảm thực vật, tác giả thiết lập 10 tuyến điều tra khảo sát thực địa cắt qua các dải độ cao khác nhau (từ 700 m đến trên 1.100 m) và 4 dạng sinh cảnh sống đặc trưng: Sinh cảnh 1 (Rừng trên núi đá vôi ít bị tác động), Sinh cảnh 2 (Khe suối), Sinh cảnh 3 (Nương rẫy), và Sinh cảnh 4 (Đồng ruộng và khu dân cư). Tọa độ các điểm nghiên cứu và vị trí thu mẫu được xác định chính xác bằng thiết bị định vị vệ tinh GPS Map 78S.
  • Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật: Mẫu vật được quan sát và thu bắt chủ yếu bằng tay hoặc kẹp/vợt chuyên dụng, tập trung vào ban đêm trong khung giờ từ 19h00 đến 24h00 (giai đoạn hoạt động mạnh của lưỡng cư) và một số cá thể thu thập vào ban ngày. Tổng cộng tác giả đã thu thập 67 mẫu vật ếch cây. Mẫu sau khi bắt được chụp ảnh, gây mê bằng bông thấm Ethyl axetat trong vòng 24 giờ. Mẫu mô gan hoặc cơ phục vụ phân tích sinh học phân tử ADN được lưu giữ riêng trong cồn 90° cách ly với phóc-môn. Mẫu vật hình thái được cố định trong cồn 80° - 90° từ 8 đến 10 tiếng (với mẫu kích thước lớn được tiêm cồn vào khoang bụng và bắp cơ để chống thối hỏng), sau đó chuyển sang bảo quản lâu dài trong cồn 70° tại phòng mẫu Trường Đại học Lâm nghiệp.
  • Phương pháp phân tích hình thái: Đo đạc 48 chỉ tiêu hình thái học chi tiết (như chiều dài mút mõm - lỗ huyệt SVL, rộng đầu HW, dài đầu HL, đường kính mắt ED, đường kính màng nhĩ TD, chiều dài chi trước FLL, chiều dài chi sau HLL, dài bàn chân FoL...) theo phương pháp của Orlov và cs. (2012) có bổ sung, sử dụng thước kẹp điện tử Alpha-Tool có độ chính xác 0,01 mm. Công thức màng bơi được tính theo phương pháp của Glaw.
  • Phương pháp xử lý thống kê sinh thái: Sử dụng phần mềm PAST Statistics (Hammer và cs., 2001) để phân tích cụm tập hợp nhóm và tính toán chỉ số tương đồng thành phần loài Sørensen: $$d_{jk} = \frac{2M}{2M + N}$$ Trong đó, $M$ là số loài xuất hiện đồng thời ở cả hai khu vực so sánh, $N$ là tổng số loài chỉ xuất hiện riêng biệt ở một trong hai khu vực. Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các báo cáo điều tra đa dạng sinh học của Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa, Niên giám thống kê huyện Quan Hóa và Quan Sơn (2011, 2014), cùng các công bố khoa học tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên lân cận.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần I: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

Phần này hệ thống hóa các hiểu biết sinh học về họ Ếch cây (Rhacophoridae), hiện có 417 loài trên thế giới, thích nghi chuyên hóa với đời sống trên cây nhờ sự phát triển của các đĩa bám ở đầu ngón và màng bơi giữa các ngón tay, chân. Tác giả tổng kết tiến trình nghiên cứu khu hệ lưỡng cư Việt Nam từ những khảo sát đầu tiên của Albert Morice (1875) thời Pháp thuộc, các công trình của Bourret (1942), Trần Kiên và cộng sự (1981), đến danh lục của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (1996, 2005, 2009). Đặc biệt giai đoạn từ năm 2010 đến 2018 ghi nhận sự phát hiện liên tiếp của 20 loài ếch cây mới tại Việt Nam. Đối với Khu bảo tồn Nam Động, tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu khi các báo cáo trước đây (Ngô Xuân Nam và cs., 2013; Đồng Thanh Hải và cs., 2016) mới chỉ ghi nhận 04 loài ếch cây sơ bộ, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải điều tra chuyên sâu.

Phần II: Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Tác giả phân tích các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa bàn. Khu bảo tồn Nam Động có địa hình núi dốc hiểm trở, độ cao trung bình từ 700 - 900 m, độ dốc từ 10 - 45° nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, mang đặc trưng của địa hình karst núi đá vôi. Khí hậu mang tính chất lục địa núi cao với nhiệt độ trung bình từ 23 - 25°C (thấp nhất 14°C, cao nhất 38°C), lượng mưa trung bình năm đạt 1.760 mm và độ ẩm không khí bình quân 86%. Đất đai chủ yếu là các nhóm đất feralit phát triển trên đá granit, sa thạch sét và đá vôi. Về mặt dân sinh, khu vực tiếp giáp 12 thôn bản thuộc 4 xã với 947 hộ, 4.333 nhân khẩu; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số (dân tộc Mường chiếm 75,3%, dân tộc Thái chiếm 19,5%, dân tộc Kinh chiếm 5,2%). Tỷ lệ nghèo cao, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 5,8 triệu đồng/người/năm (bằng 0,67 lần bình quân chung của tỉnh). Đặc biệt, đất sản xuất nông nghiệp của các xã vùng đệm chỉ chiếm 83,72 ha (0,5% tổng diện tích tự nhiên), tạo áp lực rất lớn lên tài nguyên rừng thông qua hoạt động canh tác nương rẫy, chăn thả gia súc và săn bắt động vật hoang dã.

Phần III: Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể thiết kế nghiên cứu thực địa, bao gồm tọa độ và hành trình của 10 tuyến điều tra khảo sát (tiêu biểu như tuyến Bản Lở – Lán Pha Phanh, Lán Pha Phanh – Khe cá cóc, Lán Pha Phanh – Pa Há...). Trình bày bảng danh mục 48 chỉ tiêu hình thái đo đạc và kỹ thuật xác định công thức màng bơi. Chi tiết hóa quy trình gây mê mẫu vật bằng Ethyl axetat, cố định mẫu bằng cồn nồng độ cao và bảo quản trong cồn 70°, kết hợp kỹ thuật tiêm cồn khoang bụng chống phân hủy đối với các mẫu thể tạng lớn. Giới thiệu công thức tính chỉ số tương đồng Sørensen và quy trình ứng dụng phần mềm PAST Statistics trong xử lý ma trận số liệu sinh thái.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương tập trung vào các kết quả khảo sát thực tế và phân tích chuyên môn:

  1. Thành phần loài và phân loại học: Ghi nhận 11 loài ếch cây thuộc 6 giống tại Khu bảo tồn Nam Động. Cung cấp danh lục chi tiết kèm tên khoa học, tên tác giả mô tả loài, bậc đe dọa và số lượng mẫu thu thập. Giống Theloderma chiếm tỷ lệ cao nhất với 4 loài, giống Rhacophorus có 3 loài; 4 giống còn lại (Gracixalus, Raorchestes, Kurixalus, Polypedates) mỗi giống ghi nhận 1 loài.
STT Tên Việt Nam Tên khoa học Số mẫu (n) SĐVN (2007) IUCN (2017) Đặc hữu Ghi chú
1 Nhái cây quang Gracixalus quangi 3 - VU + Ghi nhận mới cho KBT
2 Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale 5 EN LC + Mới cho KBT và Thanh Hóa
3 Ếch cây sần go-don Theloderma gordoni 2 - LC - Mới cho KBT và Thanh Hóa
4 Ếch cây lớn Rhacophorus smaragdinus 2 - NT - Ghi nhận mới cho KBT
5 Ếch cây ki-ô Rhacophorus kio 1 EN LC - Ghi nhận mới cho KBT
6 Nhái cây tí hon Raorchestes parvulus 3 - LC - Ghi nhận mới cho KBT
7 Ếch cây sần nhỏ Kurixalus bisacculus 7 - LC - Ghi nhận mới cho KBT
8 Ếch cây đốm trắng Theloderma albopunctatum 8 - LC - Ghi nhận mới cho KBT
9 Ếch cây ooc-lốp Rhacophorus orlovi 12 - LC - Đã ghi nhận từ trước
10 Ếch cây sần đỏ Theloderma lateriticum 1 - LC + Mới cho KBT và Thanh Hóa
11 Ếch cây đầu to Polypedates megacephalus 5 - LC - Đã ghi nhận từ trước
  1. Mô tả hình thái 09 loài ghi nhận mới: Cung cấp đầy đủ số đo hình thái trắc lượng, màu sắc cá thể khi còn sống và sau khi ngâm cồn, cùng sinh cảnh vi mô của từng loài. Điển hình như loài Rhacophorus kio có kích thước cơ thể lớn nhất (SVL cá thể đực đạt 78,6 mm; bàn chân dài FoL đạt 61,8 mm); Gracixalus quangi có kích thước nhỏ (SVL 21,9 mm), lưng có hoa văn chữ X màu nâu nhạt, họng và bụng màu vàng chanh; Theloderma corticale có thân phủ nhiều nốt sần u lớn dạng rêu đá màu ô-liu pha nâu đỏ; Theloderma gordoni có kích thước SVL 44,8 mm, da có nhiều mụn cóc thô ráp và đốm màu đất sét.

  2. Phân bố theo đai cao và sinh cảnh sống:

  • Theo đai cao: Đai cao 700 - <800 m tập trung độ phong phú loài lớn nhất với 8 loài sinh sống (Theloderma corticale, T. gordoni, Rhacophorus smaragdinus, Kurixalus bisacculus, Theloderma albopunctatum, T. lateriticum, Rhacophorus orlovi, Polypedates megacephalus). Đai cao 800 - <900 m ghi nhận 4 loài; đai cao 900 - <1000 m ghi nhận 5 loài (Gracixalus quangi, T. corticale, Raorchestes parvulus, K. bisacculus, P. megacephalus). Đai cao >1000 m ghi nhận ít nhất với 2 loài (Rhacophorus kio tại độ cao 1.118 m và P. megacephalus).
  • Theo sinh cảnh sống: Rừng trên núi đá vôi ít bị tác động (SC 1) là sinh cảnh tối ưu, nơi ghi nhận sự hiện diện của toàn bộ 11/11 loài (chiếm 100%). Sinh cảnh khe suối (SC 2) ghi nhận 7 loài. Sinh cảnh nương rẫy (SC 3) ghi nhận 2 loài (Rhacophorus smaragdinus và Polypedates megacephalus). Sinh cảnh đồng ruộng và khu dân cư (SC 4) chỉ ghi nhận duy nhất 1 loài chịu đựng biên độ sinh thái rộng là Polypedates megacephalus.
  1. Độ tương đồng thành phần loài: Phân tích chỉ số Sørensen giữa Khu bảo tồn Nam Động với 4 khu bảo tồn thiên nhiên có sinh cảnh núi đá vôi tương đồng ở miền Bắc cho thấy: Nam Động có độ tương đồng thành phần loài ếch cây cao nhất với Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông và thấp nhất với Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.

  2. Giá trị bảo tồn, mối đe dọa và giải pháp: Khẳng định giá trị tài nguyên với 3 loài đặc hữu Việt Nam và 3 loài nằm trong danh mục đe dọa toàn cầu/quốc gia. Xác định 3 nhóm mối đe dọa chính: hoạt động săn bắt động vật hoang dã của người dân bản địa; mất và suy thoái sinh cảnh sống do mở rộng nương rẫy, khai thác gỗ, chăn thả gia súc; và ô nhiễm nguồn nước do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong thâm canh nông nghiệp. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp: tăng cường tuần tra bảo vệ sinh cảnh vùng lõi; kiểm soát sử dụng hóa chất nông nghiệp ở vùng đệm; quy hoạch phát triển kinh tế nâng cao sinh kế người dân; và ưu tiên bảo tồn nguồn gen 4 loài quý hiếm gồm Theloderma corticale, Theloderma gordoni, Theloderma lateriticum và Gracixalus quangi.

Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã mang lại các số liệu cụ thể và đóng góp khoa học có giá trị thực tiễn:

  • Bổ sung thành phần loài cho khu hệ: Phát hiện và lập danh lục 11 loài ếch cây thuộc 6 giống tại Khu bảo tồn Nam Động. Trong đó, có 09 loài được ghi nhận mới cho khu bảo tồn (trước đó chỉ có 02 loài được ghi nhận là Polypedates megacephalus và Rhacophorus orlovi).
  • Ghi nhận mới về phân bố địa lý: Bổ sung 03 loài ếch cây lần đầu tiên được ghi nhận xuất hiện tại tỉnh Thanh Hóa, bao gồm: Ếch cây sần bắc bộ (Theloderma corticale), Ếch cây sần go-don (Theloderma gordoni), và Ếch cây sần đỏ (Theloderma lateriticum).
  • Cung cấp dẫn liệu hình thái và sinh thái học chi tiết: Khóa luận đã xây dựng được bảng đo đạc 48 chỉ tiêu hình thái trắc lượng chi tiết, công thức màng bơi, mô tả màu sắc tiêu bản sống và ngâm cồn, cùng sinh cảnh vi mô của 9 loài ghi nhận mới dựa trên 67 mẫu vật thực thu.
  • Xác định giá trị bảo tồn cao: Xác định được 02 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở thứ hạng Nguy cấp (EN) là Theloderma corticale và Rhacophorus kio; 01 loài trong Danh lục Đỏ IUCN (2017) ở bậc Sẽ nguy cấp (VU) là Gracixalus quangi; 01 loài ở bậc Gần bị đe dọa (NT) là Rhacophorus smaragdinus; cùng 03 loài là động vật đặc hữu của Việt Nam (Gracixalus quangi, Theloderma corticale, Theloderma lateriticum).
  • Cơ sở khoa học cho quản lý bảo tồn: Phân tích định lượng sự phân bố theo đai cao và sinh cảnh khẳng định tính ưu việt của rừng trên núi đá vôi tự nhiên đối với sự sinh tồn của họ Ếch cây, từ đó đề xuất trực tiếp các giải pháp quản lý quần thể và kiểm soát mối đe dọa nhân sinh cho Ban quản lý khu bảo tồn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học nên thời gian khảo sát thực địa chỉ bố trí thành 3 đợt ngắn hạn qua các năm 2017 - 2018. Địa hình núi đá vôi chia cắt hiểm trở và thời tiết phức tạp gây khó khăn cho việc tiếp cận các đỉnh núi cao, dẫn đến số lượng mẫu vật thu thập được ở một số loài còn ít (như Theloderma lateriticum và Rhacophorus kio mỗi loài mới chỉ thu được 01 cá thể mẫu vật). Ngoài ra, nghiên cứu chưa phân tích sâu được cấu trúc quần thể theo mùa khô cũng như chưa trực tiếp triển khai phân tích sinh học phân tử ADN trong nội dung khóa luận.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần tiếp tục mở rộng các tuyến điều tra lên các đỉnh núi có đai cao trên 1.000 m; kéo dài thời gian theo dõi liên tục các mùa trong năm để làm rõ đặc điểm sinh thái sinh sản, biến động mật độ quần thể; đồng thời tiến hành giải trình tự gen ty thể từ các mẫu mô đã thu thập để làm rõ mối quan hệ di truyền quần thể của các loài đặc hữu và quý hiếm tại khu vực.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học, Động vật học rừng làm tài liệu tham khảo phương pháp luận về điều tra thực địa lưỡng cư, phương pháp đo 48 chỉ tiêu trắc lượng hình thái học và kỹ thuật lập công thức màng bơi.
  • Cán bộ quản lý khu bảo tồn và kiểm lâm: Tài liệu cung cấp số liệu hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh cảnh và các mối đe dọa thực tế, phục vụ trực tiếp công tác xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng bền vững tại Khu bảo tồn Nam Động và các khu bảo tồn thiên nhiên núi đá vôi vùng Bắc Trung Bộ.
  • Nội dung tham khảo nổi bật: Phần mô tả chi tiết hình thái học mẫu sống - mẫu ngâm của 9 loài ghi nhận mới và ma trận phân tích chỉ số tương đồng Sørensen bằng phần mềm PAST Statistics.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tổng cộng bao nhiêu loài Ếch cây tại Khu bảo tồn Nam Động và có phát hiện mới nào về phân bố địa lý?
Nghiên cứu đã ghi nhận được 11 loài ếch cây thuộc 6 giống của họ Rhacophoridae. Trong đó, có 09 loài ghi nhận mới cho Khu bảo tồn Nam Động và đặc biệt có 03 loài lần đầu tiên được ghi nhận phân bố tại tỉnh Thanh Hóa, bao gồm: Ếch cây sần bắc bộ (Theloderma corticale), Ếch cây sần go-don (Theloderma gordoni) và Ếch cây sần đỏ (Theloderma lateriticum).

2. Loài Ếch cây nào có kích thước cơ thể lớn nhất và nhỏ nhất trong các loài được đo đạc trong khóa luận?
Loài có kích thước lớn nhất ghi nhận được là Ếch cây ki-ô (Rhacophorus kio) với chiều dài cơ thể từ mút mõm đến lỗ huyệt (SVL) của cá thể đực trưởng thành đạt 78,6 mm. Loài có kích thước nhỏ nhất là Nhái cây tí hon (Raorchestes parvulus) với SVL con đực đạt 19,4 mm và con cái đạt 24,6 mm.

3. Sự phân bố của các loài Ếch cây tại khu vực nghiên cứu có đặc điểm gì nổi bật theo độ cao và sinh cảnh?
Về đai cao, đa số các loài tập trung phong phú nhất ở đai cao từ 700 - <800 m với 8 loài xuất hiện, trong khi đai cao >1000 m chỉ ghi nhận 2 loài. Về sinh cảnh sống, sinh cảnh rừng trên núi đá vôi ít bị tác động là nơi cư trú của toàn bộ 11 loài (100%), sinh cảnh khe suối có 7 loài, trong khi sinh cảnh nương rẫy chỉ có 2 loài và sinh cảnh đồng ruộng, khu dân cư chỉ ghi nhận duy nhất 1 loài (Polypedates megacephalus).

4. Khóa luận đã ghi nhận những loài nào có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN?
Nghiên cứu ghi nhận 02 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở bậc Nguy cấp (EN) là Ếch cây sần bắc bộ (Theloderma corticale) và Ếch cây ki-ô (Rhacophorus kio); 01 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN (2017) ở bậc Sẽ nguy cấp (VU) là Nhái cây quang (Gracixalus quangi); cùng 01 loài ở mức Gần bị đe dọa (NT) là Ếch cây lớn (Rhacophorus smaragdinus).

5. Những mối đe dọa chính đối với các loài Ếch cây tại Khu bảo tồn Nam Động được xác định là gì?
Nghiên cứu chỉ ra ba mối đe dọa chủ yếu gồm: hoạt động săn bắt trực tiếp của người dân vùng đệm; mất và suy thoái sinh cảnh sống do chuyển đổi đất rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ và chăn thả gia súc; cùng với việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước suối tự nhiên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Văn Thiện đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác định thành phần gồm 11 loài ếch cây thuộc 6 giống tại Khu bảo tồn các loại hạt trần quý, hiếm Nam Động, bổ sung 09 loài mới cho khu bảo tồn và 03 loài mới cho khu hệ lưỡng cư tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu trắc lượng hình thái học chi tiết của 67 mẫu vật thực địa và làm sáng tỏ quy luật phân bố gắn liền với hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi ít bị tác động. Những phát hiện khoa học cùng các đề xuất quản lý trong khóa luận là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn gen các loài động vật quý hiếm tại địa phương.