Cuộc Đảo Chính 1-11-1963 và Khủng Hoảng Chính Quyền Sài Gòn (1963-1965)

Cuộc đảo chính 1/11/1963 đánh dấu khởi đầu khủng hoảng chính quyền Sài Gòn giai đoạn 1963-1965, ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử Việt Nam.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

183
12
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cuộc Đảo Chính 1 11 1963 và Bối Cảnh Lịch Sử

Cuộc đảo chính 1-11-1963 là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam Cộng Hòa, đánh dấu sự khởi đầu của giai đoạn khủng hoảng chính trị kéo dài. Hiệp định Giơnevơ năm 1954, dù mang lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương, nhưng lại mở ra cơ hội cho sự can thiệp sâu rộng của Hoa Kỳ. Mỹ, với tham vọng bá chủ thế giới, đã dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm như một công cụ để thực thi chủ nghĩa thực dân mới. Tuy nhiên, sự độc tài và đàn áp của chế độ Ngô Đình Diệm đã gây ra sự bất mãn sâu sắc trong xã hội, tạo tiền đề cho cuộc đảo chính. Giai đoạn 1963-1965 là một mảng đề tài lịch sử hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Việc tìm hiểu giai đoạn này giúp chúng ta có cái nhìn chính xác về chính quyền Sài Gòn và sự đấu tranh gian khổ của cha ông để giành độc lập, tự do. Nhiều quan điểm trái chiều về nhân vật Dương Văn Minh cũng là một yếu tố thúc đẩy việc nghiên cứu về cuộc đảo chính này.

1.1. Hiệp Định Giơnevơ và Sự Can Thiệp Của Hoa Kỳ

Hiệp định Giơnevơ (1954) được ký kết đã kết thúc 9 năm kháng chiến thắng lợi của nhân dân Việt Nam, đó là sự kết thúc của một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc có tính chất điển hình, là sự thất bại của một đế quốc lớn, đế quốc Pháp, được một đế quốc giàu mạnh khác ủng hộ là đế quốc Mỹ. Nhưng với âm mưu bá chủ thế giới, Mỹ thực hiện chính sách can thiệp vào nội bộ của nhiều nước trên thế giới, xác lập vai trò và buộc các nước này phụ thuộc vào Mỹ. Điều 1 của Chương I quy định: Một giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được quy định rõ, để lực lượng của hai bên sau khi rút lui sẽ tập hợp ở bên này và bên kia giới tuyến ấy: lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến.

1.2. Chính Quyền Ngô Đình Diệm Công Cụ Của Chủ Nghĩa Thực Dân Mới

Ở miền Nam Việt Nam Mỹ đã dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm thành bộ máy tay sai điển hình, nhưng người Mỹ cũng không thể duy trì được chính thể này. Năm 1963, trước nguy cơ phá sản của chủ nghĩa thực dân mới, Mỹ phải giật dây cho những tuớng tá Sài Gòn đứng đầu là Dương Văn Minh làm đảo chính lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm để xây dựng một thiết chế mới nhằm cứu vãn cuộc chiến tranh xâm lược. Song, những mô hình chính quyền tay sai thực dân mới do Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam sau Diệm cũng lần lượt sụp đổ vào năm 1975 với Đại thắng Mùa Xuân, chủ nghĩa thực dân mới Mỹ bị thất bị hoàn toàn.

II. Phân Tích Nguyên Nhân Sâu Xa Dẫn Đến Đảo Chính Ngô Đình Diệm

Sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm không phải là một sự kiện bất ngờ, mà là kết quả của một quá trình tích tụ mâu thuẫn kéo dài. Chính sách độc tài gia đình trị, đàn áp tôn giáo (đặc biệt là Phật giáo với Vụ Phật Đản 1963), và tham nhũng tràn lan đã khiến chính quyền Ngô Đình Diệm mất dần sự ủng hộ của người dân. Bên cạnh đó, sự can thiệp ngày càng sâu của Hoa Kỳ vào công việc nội bộ của Việt Nam Cộng Hòa cũng là một yếu tố quan trọng. Mỹ nhận thấy sự bất lực của Ngô Đình Diệm trong việc đối phó với phong trào cách mạng, và bắt đầu tìm kiếm một giải pháp thay thế. Áp lực từ Hoa Kỳ trong việc loại bỏ Ngô Đình Nhu ra khỏi chính quyền cũng góp phần làm suy yếu chế độ Diệm.

2.1. Chính Sách Độc Tài và Đàn Áp Tôn Giáo Của Ngô Đình Diệm

Những thủ đoạn và chính sách tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây ra sự bất mãn sâu sắc trong xã hội. Mâu thuẫn và khủng hoảng trong chế độ Diệm trước 1963 ngày càng gia tăng. Đặc biệt, việc Diệm đàn áp phong trào Phật giáo đã làm bùng nổ sự phẫn nộ trong quần chúng nhân dân.

2.2. Vai Trò Của Hoa Kỳ và Áp Lực Loại Bỏ Ngô Đình Nhu

Áp lực của Mỹ trong việc đẩy Ngô Đình Nhu ra khỏi chính quyền Ngô Đình Diệm là một yếu tố quan trọng dẫn đến cuộc đảo chính. Mỹ nhận thấy rằng Ngô Đình Nhu là một trở ngại lớn cho việc duy trì sự ổn định của Việt Nam Cộng Hòa và đã tìm cách loại bỏ ông ta.

III. Dương Văn Minh và Vai Trò Trong Cuộc Đảo Chính 1 11 1963

Dương Văn Minh, một tướng lĩnh có tiếng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã trở thành người cầm đầu cuộc đảo chính 1-11-1963. Xuất thân từ một gia đình khá giả, Dương Văn Minh có mối quan hệ phức tạp với chính quyền Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, sự bất mãn với chế độ độc tài và sự can thiệp của Hoa Kỳ đã khiến ông quyết định tham gia vào cuộc đảo chính. Dương Văn Minh được xem là sự lựa chọn của Mỹ trong việc lật đổ Ngô Đình Diệm, nhằm ổn định tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam. Cuộc đảo chính diễn ra nhanh chóng và thành công, đánh dấu sự kết thúc của chế độ Ngô Đình Diệm.

3.1. Tiểu Sử và Mối Quan Hệ Giữa Dương Văn Minh và Ngô Đình Diệm

Dương Văn Minh có mối quan hệ phức tạp với chính quyền Ngô Đình Diệm. Mặc dù từng phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ông cũng có những bất đồng với chính sách của Diệm.

3.2. Dương Văn Minh Sự Lựa Chọn Của Mỹ Để Lật Đổ Ngô Đình Diệm

Dương Văn Minh được xem là sự lựa chọn của Mỹ trong việc lật đổ Ngô Đình Diệm. Mỹ tin rằng Dương Văn Minh có thể mang lại sự ổn định cho Việt Nam Cộng Hòa và giúp họ duy trì ảnh hưởng ở khu vực.

3.3. Diễn Biến và Kết Quả Của Cuộc Đảo Chính 1 11 1963

Cuộc đảo chính diễn ra nhanh chóng và thành công. Ngô Đình DiệmNgô Đình Nhu bị bắt và sát hại, đánh dấu sự kết thúc của chế độ Ngô Đình Diệm.

IV. Khủng Hoảng Chính Trị Tiếp Diễn Sau Đảo Chính 1963 ở Sài Gòn

Sau cuộc đảo chính 1-11-1963, tình hình chính trị ở Sài Gòn không những không ổn định mà còn trở nên hỗn loạn hơn. Hội đồng Quân nhân Cách mạng do Dương Văn Minh đứng đầu đã không thể kiểm soát được tình hình. Các phe phái chính trị tranh giành quyền lực, gây ra sự bất ổn liên miên. Chính quyền Sài Gòn rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Mỹ tìm cách củng cố chính quyền Sài Gòn để duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, nhưng mọi nỗ lực đều thất bại. Sự bất ổn chính trị đã tạo điều kiện cho sự phát triển của phong trào cách mạng.

4.1. Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng và Sự Bất Ổn Chính Trị

Hội đồng Quân nhân Cách mạng do Dương Văn Minh đứng đầu đã không thể kiểm soát được tình hình chính trị ở Sài Gòn sau cuộc đảo chính.

4.2. Nỗ Lực Của Mỹ Để Củng Cố Chính Quyền Sài Gòn

Mỹ tìm cách củng cố chính quyền Sài Gòn để duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, nhưng mọi nỗ lực đều thất bại do sự bất ổn chính trị và sự yếu kém của các chính quyền kế nhiệm.

V. Chiến Tranh Việt Nam Mỹ Leo Thang Sau Đảo Chính 1 11 1963

Sau cuộc đảo chính 1-11-1963, Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào Chiến tranh Việt Nam. Mỹ leo thang và mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam, tăng cường viện trợ quân sự và đưa quân đội trực tiếp tham chiến. Tuy nhiên, sự can thiệp của Mỹ không những không mang lại kết quả mong muốn mà còn làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn. Cuộc chiến tranh ngày càng trở nên khốc liệt và kéo dài, gây ra những hậu quả nặng nề cho cả Việt NamHoa Kỳ.

5.1. Mỹ Leo Thang và Mở Rộng Chiến Tranh Việt Nam

Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào Chiến tranh Việt Nam sau cuộc đảo chính 1-11-1963, tăng cường viện trợ quân sự và đưa quân đội trực tiếp tham chiến.

5.2. Hậu Quả Của Sự Can Thiệp Của Mỹ

Sự can thiệp của Mỹ không những không mang lại kết quả mong muốn mà còn làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn, gây ra những hậu quả nặng nề cho cả Việt NamHoa Kỳ.

VI. Bài Học Từ Cuộc Đảo Chính 1 11 1963 và Khủng Hoảng Chính Quyền

Cuộc đảo chính 1-11-1963 và giai đoạn khủng hoảng chính quyền sau đó đã để lại nhiều bài học quý giá. Sự can thiệp của nước ngoài vào công việc nội bộ của một quốc gia có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Sự độc tài và đàn áp không thể duy trì được sự ổn định xã hội. Chỉ có một chính quyền được lòng dân mới có thể tồn tại và phát triển. Việc nghiên cứu về cuộc đảo chính 1-11-1963 giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử Việt Nam và rút ra những bài học kinh nghiệm cho tương lai.

6.1. Bài Học Về Sự Can Thiệp Của Nước Ngoài

Sự can thiệp của nước ngoài vào công việc nội bộ của một quốc gia có thể gây ra những hậu quả khôn lường, làm suy yếu chính quyền và gây bất ổn xã hội.

6.2. Bài Học Về Dân Chủ và Quyền Tự Quyết

Chỉ có một chính quyền được lòng dân, tôn trọng dân chủ và quyền tự quyết của người dân mới có thể tồn tại và phát triển bền vững.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I quy định: Một giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được quy định rõ, để lực lượng của hai bên sau khi rút lui sẽ tập hợp ở bên này và bên kia giới tuyến ấy: lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến. Hai bên đều có một khu phi quân sự hai bên giới tuyến, mỗi bên rộng nhất là 5 cây số, kể từ giới tuyến trở đi. Khu phi quân sự này dùng để làm khu đệm và để tránh những việc xung đột có thể làm cho chiến sự xảy ra trở lại Điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng” quy định: Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam việc giải quyết các vấn đề chính trị, thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín Điều 11 của bản “Tuyên bố cuối cùng” quy định: Hội nghị chứng nhận lời tuyên bố của Chính phủ Pháp nói rằng Chính phủ Pháp, trong sự giải quyết tất cả những vấn đề có liên quan đến sự lập lại và củng cố hòa bình ở 9 Cao Miên, Lào và Việt Nam sẽ căn cứ trên sự tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất lãnh thổ của Cao Miên, Lào và Việt Nam [127;705]. Như vậy, với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ đã kết thúc 9 năm kháng chiến của nhân dân Việt Nam, đồng thời là thắng lợi của các lực lượng dân chủ, hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới.

Thắng lợi lớn nhất của Hiệp định là lần đầu tiên Pháp phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia là độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đó cũng là thất bại sự can thiệp của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương của Pháp. Nhưng với âm mưu bá chủ thế giới, Mỹ thực hiện chính sách can thiệp vào nội bộ của nhiều nước nhằm xác lập vai trò và buộc các nước này phụ thuộc vào Mỹ. Ở các nước, khu vực mà phong trào giải phóng dân tộc đang dâng cao như Á – Phi – Mỹ Latinh, Mỹ thực thi chính sách thực dân mới, dựng chính quyền tay sai khoác áo “quốc gia”, “dân tộc” nhằm lừa bịp thế giới, nhân dân Mỹ và chĩa mũi nhọn vào phe xã hội chủ nghĩa để thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng.

Là đất nước, có vị trí chiến lược: cửa ngõ đi vào lục địa trù phú Đông Nam Á; trên hải trình từ Đông sang Tây và là hình mẫu của phong trào giải phóng dân tộc thế giới, Việt Nam sớm trở thành tâm điểm chú ý của Mỹ. Về cơ bản các nhà quân sự Mỹ cho rằng, Việt Nam là tiền đồn then chốt trong phòng tuyến ngăn chặn làn sóng đỏ ở Đông Nam Á, nếu để mất Việt Nam dẫn đến sự cô lập ba khu vực an ninh cơ bản của châu Á là Nhật Bản, Ấn Độ và Úc, đồng thời dẫn đến việc để mất các quốc gia Đông Nam Á khác trên đất liền. Trong thời điểm phải dàn quân ngăn chặn sự xác lập vị thế của Liên Xô ở châu Âu và Nam Á khiến Mỹ không đủ sức trực tiếp can thiệp vào Việt Nam và Đông Dương. Do đó, trong giai đoạn 1949-1953, Mỹ xác lập vị thế tại Việt Nam bằng chính sách hai mặt.

Về quân sự, Mỹ viện trợ cho Pháp tiếp 10 tục cuộc chiến tại Việt Nam. Về chính trị, Mỹ làm áp lực buộc Pháp dần trao trả “độc lập” cho chính quyền bù nhìn của Bảo Đại – nhằm loại bỏ dần vai trò điều khiển của Pháp. Để sau đó, bằng “quan hệ đồng minh” với Bảo Đại, Mỹ có được Việt Nam. Và nhằm che đậy lợi ích kinh tế và âm mưu độc chiếm vành đai Thái Bình Dương khi xâm chiếm Việt Nam, chính quyền Mỹ đề ra “học thuyết đô-mi-nô”, nhằm hướng dư luận vào cuộc chiến giữa hai ý thức hệ: “thế giới tự do” và “cộng sản”.

Khi âm mưu lợi dụng quân Pháp và sử dụng giải pháp Bảo Đại nhằm xâm chiếm Việt Nam một cách rẻ tiền nhất bị thất bại, Mỹ đã lựa chọn con bài khác là Ngô Đình Diệm để phá hoại Hiệp định Giơnevơ và biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ. Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 -1- 1901 tại Huế, ngoài tên thánh Teane Bapiste còn có bí danh là Nguyễn Bá Chính con của Ngô Đình Khả, một người theo đạo Kitô tận tụy phục vụ Chính phủ Pháp, Khả từng làm thông ngôn Tòa Khâm sứ. Theo báo cáo gửi lên Roosevelt, tướng Edward G.Lansdale tường trình về Ngô Đình Diệm như sau:“Ông ta lùn, mập, tròn, cặp giò vừa đủ chạm mặt đất khi ngồi, thường có sở thích ăn ngon, nụ cười có vẻ e dè và bất thường” [85;31]. Dưới tác động của Mỹ, Ngày 16 – 6 – 1954, Bảo Đại buộc phải ký Sắc lệnh 38/QT bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng và ngày 19- 6-1954, tiếp tục Ban hành Dụ số 15, chính thức bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng Chính phủ và có toàn quyền về dân sự và quân sự.

Ngày 20- 6- 1954, trở về Sài Gòn sau nhiều năm lưu vong ở nước ngoài, Ngô Đình Diệm đã được các “cận thần” ra tận phi trường đón tiếp với đầy đủ phần nghi lễ, nhưng không khí của buổi tiếp đón không như Diệm mong đợi vì "Thiếu hẳn sự chào đón của quần chúng và điều này cũng chứng tỏ Ngô Đình Diệm không có thực lực và không được quần chúng ủng hộ" [83; 86 – 11 88]. Khi về nước, Diệm không có thực lực, lực lượng xã hội mà anh em Diệm coi là chỗ dựa chính là những người theo đạo Thiên chúa, song họ không chiếm quá 7% dân số miền Nam, Ngô Đình Diệm gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra, tình hình tại miền Nam Việt Nam lúc này vô cùng rối ren, nền kinh tế thuộc địa phụ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu gạo và cao su để cung cấp tài chính nhập khẩu hàng hóa thiết yếu. Trải qua chiến tranh, miền Nam bị tàn phá nặng nề và chỉ có những khoản chi tiêu quân sự khổng lồ của Pháp mới có thể giữ cho chính quyền tay sai mới khỏi tan rã.

Thế nhưng, những khoản chi tiêu đó dù được thay thế bằng viện trợ của Mỹ song hậu quả nó để lại là tạo ra một sự xung đột sâu sắc về quyền lợi giữa hai phe, một đại diện cho chủ nghĩa thực dân kiểu mới Mỹ và một đại diện cho chủ nghĩa thực dân kiểu cũ Pháp. Chính quyền của Diệm lúc này vẫn còn rất nhiều các tướng lĩnh, công chức thân Pháp và Bảo Đại trong đó có Nguyễn Văn Hinh – Trung tướng Tham mưu trưởng quân đội luôn chống lại việc giao “quân đội quốc gia” vào tay Diệm và chống lại chính sách gia đình trị của Diệm “Suốt ngày đài phát thanh của hắn ra rả đả kích Diệm” [85; 56]. Trước những khiêu khích và thái độ khinh thường của Nguyễn Văn Hinh, Diệm đã vận động buộc Bảo Đại gọi Hinh sang Pháp nhưng đã không nhận được sự trả lời, Diệm liền liên lạc với ông chủ Mỹ của mình và cuộc mặc cả đã diễn ra tại Pari. Cuộc mặc cả thành công, ngay lập tức ngày 20-11-1954 Bảo Đại triệu Hinh về Pháp.

Sau khi dẹp được Nguyễn Văn Hinh, Diệm bắt đầu quay sang tiêu diệt các giáo phái chống đối. Trước hết là Bình Xuyên của Lê Văn Viễn, đây là lực lượng đang nắm nhiều quyền lực nhất, có khoảng 2000 bộ hạ võ trang ở Sài Gòn – Chợ Lớn và khoảng 2000 đóng phía ngoài. Để đối phó với lực lượng chống đối của Bảy Viễn, Diệm rất khôn ngoan một mặt mua chuộc Trịnh Minh Thế và Nguyễn Thành Phương của Cao Đài, mặt khác dùng quyền lực để thị uy, bằng những cách này Diệm đã hoàn toàn cô lập được 12 Bình Xuyên. Đêm ngày 29 rạng ngày 30-3-1955, cuộc tấn công Bình Xuyên bắt đầu, hai bên chết 26 và 112 người bị thương, hàng ngàn căn nhà của những người dân vô tội bị thiêu hủy.

Với 4 tiểu đoàn dự bị, được sự khuyến khích của tướng tá Mỹ, Ngô Đình Diệm quyết ra tay tiêu diệt Bình Xuyên. Ngày 30- 4- 1955, Diệm cho đại bác nã vào đại bản doanh của Bình Xuyên ở bên kia cầu chữ Y. Sau bốn ngày giao tranh, chủ yếu bằng súng cối, cánh quân của Dương Văn Minh đã đột nhập được vào Tổng hành dinh của Bình Xuyên buộc Lê Văn Viễn phải đưa quân xuống rừng Sác. Đến ngày 5- 5- 1955 quân đội Bình Xuyên hoàn toàn bị quét khỏi Sài Gòn, Diệm tiếp tục cho quân đội truy sát, thanh tảo nên ngày 25- 8- 1955, 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 1 liên đoàn thủy quân lục chiến của Diệm bao vây rừng Sác.

Thiếu ăn, thiếu cả nước uống, quân Bình Xuyên tan vỡ, Bảy Viễn chạy sang Pari. Giải quyết xong những rào cản chính trị ở chính trường miền Nam, Ngô Đình Diệm bắt đầu cuộc“Trưng cầu dân ý” nhằm mục tiêu phế truất Bảo Đại lên làm Tổng thống. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này Diệm đã luôn tung hô những khẩu hiệu “tự do" và “dân chủ”. Cùng với lá bài " tự do" "dân chủ" Diệm còn huy động bộ máy thông tin liên lạc để in và dùng máy bay rãi 210.000 [97] truyền đơn ủng hộ cho cuộc trưng cầu dân ý.

Kết quả từ thành thị đến nông thôn ở đâu cũng gửi kiến nghị phế truất Bảo Đại. Diệm còn dùng cảnh sát, mật vụ luôn túc trực sẵn sàng bắt và tống giam những người không ủng hộ mình. Sau quá trình chuẩn bị, được sự giúp sức của Mỹ, ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tiến hành cuộc "Trưng cầu dân ý". Cuộc trưng cầu dân ý gian lận với kết quả như sau: Bầu cho “Tổng thống” Ngô Đình Diệm là 5.735 phiếu (đạt 98,2% số phiếu), và Bảo Đại 63.

(Tổng số người đi bầu: 5.907; Bầu cho “Tổng thống” Diệm: 5.735; 13 Bầu cho Bảo Đại: 63.017; Số người không tham gia bầu cử: 131.395; Phiếu không hợp lệ: 44. Nói cuộc trưng cầu này gian lận bởi nếu tìm hiểu cụ thể ta thấy một nghịch lý, một nghịch lý rất dễ nhận ra như sau “Tại Sài Gòn tổng cử tri là 450.000 người mà số phiếu bỏ cho ông Diệm lên tới 650.000, nghĩa là số phiếu gian lận là 200. Giữa thủ đô Sài Gòn có tai mắt quốc tế mà còn gian lận trắng trợn đến thế, thử hỏi tại các tỉnh, tại thôn quê thì sự gian lận đến mức nào? [16;15].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ