phần mở đầu, kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về CTXH đối với lao động nữ nhập cƣ. Chƣơng 2: Thực trạng công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cƣ tại Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp tăng cƣờng CTXH đối với lao động nữ nhập cƣ từ thực tiễn khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dƣơng. 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ NHẬP CƢ 1.
Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của lao động nữ nhập cƣ 1. Khái niệm, đặc điểm của lao động nữ nhập cư Hiện nay vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về “nhập cƣ” để có thể áp dụng một cách phổ biến trên toàn cầu. Nội dung của khái niệm này thƣờng đƣợc các quốc gia điều chỉnh cho phù hợp với các mục đích chính trị, kinh tế của mình. Dƣới góc độ địa lý, nhập cƣ là sự chuyển đến của một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời từ một đơn vị địa lý khác, vƣợt qua biên giới hành chính, chính trị với mục đích cƣ trú lâu dài hoặc tạm thời.
Nhập cƣ có thể diễn ra giữa nƣớc này với nƣớc khác, hoặc giữa vùng này với vùng khác trong cùng một nƣớc. Theo Đại từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin: Nhập cư là đến định cƣ ở một nơi khác. Với đề tài này, “nhập cƣ” muốn nói đến việc ngƣời dân nông thôn lên thành phố, đến các đô thị làm việc lâu dài; cƣ trú tại nơi họ đang làm việc một cách lâu dài. Lao động là ngƣời tham gia lao động theo Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định, từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động [47, tr.
Lao động nữ nhập cư đƣợc hiểu là những lao động nữ từ các tỉnh, thành trong cả nƣớc đến Bình Dƣơng làm việc theo hợp đồng lao động và đăng ký tạm trú trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng từ ít nhất 06 tháng trở lên. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi tìm hiểu đời sống của LĐNNC đang làm việc tại KCN Việt Nam-Singapore, về điều kiện sống của LĐNNC; các điều kiện đó chia theo hai lĩnh vực: đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Nhƣ vậy, trên cơ sở hai chỉ báo về đời sống vật chất và đời sống văn hoá tinh thần để nghiên cứu đời sống của nhóm LĐNNC trong KCN Việt Nam – Singapore. Nhóm LĐNNC là những phụ nữ (độc thân hoặc đã có gia đình), sống xa gia đình, xa quê hƣơng; cƣ trú tạm bợ trong những khu nhà trọ thiếu tiện nghi, môi trƣờng sống bị ô nhiễm, gặp khó khăn mọi mặt, cả đời sống vật chất lẫn tinh thần.
9 Họ gặp khó khăn về hòa nhập cộng đồng dân cƣ tại nơi đến do khác biệt về văn hóa nên thƣờng sống co cụm từng khu vực với các đồng hƣơng cùng quê; khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ về giáo dục, y tế, nhà ở, thông tin,… Đa số họ có việc làm phổ thông do trình độ thấp và không có tay nghề chuyên môn, do đó thu nhập cũng thấp. Nhu cầu của lao động nữ nhập cư Ngƣời dân nhập cƣ nói chung và nữ nhập cƣ vào KCN ngày càng đông, hầu hết chỉ cƣ trú ở nhà trọ, đời sống vất vả, khó khăn về nhà ở, điện, nƣớc sinh hoạt, môi trƣờng sống…Họ rời làng quê đến đô thị, trình độ thấp, chƣa có chuyên môn nên chỉ mong có đƣợc việc làm, thu nhập ổn định để tiết kiệm gửi về cho gia đình Đa số tuổi đời nữ công nhân còn trẻ, mong muốn tăng ca để tăng thu nhập; lâu dài họ bị suy giảm sức lao động; nhất là LĐNNC khi họ vừa chịu áp lực công việc vừa chịu áp lực chăm sóc gia đình; ngoài ra họ lại không thƣờng xuyên tham gia vào các hoạt động giao lƣu,vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao… Hệ thống thiết chế văn hoá, công trình phúc lợi, trƣờng học, bệnh viện, nhà ở… phục vụ công nhân lao động KCN chƣa đƣợc đầu tƣ thoả đáng. Nhu cầu tham gia vào các hoạt động văn hoá tinh thần của CNLĐ ngày càng tăng. Các doanh nghiệp đã tổ chức các hoạt động tập thể, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao.
Tuy nhiên, nữ CNLĐ không có điều kiện và không có nhiều cơ hội để tham gia những hoạt động này. Do điều kiện sống khó khăn, tình trạng công nhân nữ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội nhƣ trộm cắp, mại dâm,… rất phức tạp. LĐN cũng rất trăn trở về tình yêu, hôn nhân gia đình. Đối với LĐNNC đã có gia đình ở quê thì việc giữ gìn hạnh phúc, chăm lo cho gia đình rất hạn chế, nguy cơ tan vỡ cao; những phụ nữ sống chung cùng gia đình tại nơi nhập cƣ thì đời sống khó khăn, nơi ở chật hẹp, không đảm bảo vệ sinh, luôn tăng ca,… khó khăn trong giữ gìn hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái; những ngƣời chƣa có gia đình thì ít có thời gian và cơ hội để tìm hạnh phúc lứa đôi; tình trạng sống thử trong giới công nhân cũng đang diễn biến phức tạp,gây hậu quả nghiêm trọng và ảnh hƣởng cả cuộc sống sau này của họ.
10 Tóm lại, cuộc sống của lao động nhập cƣ nói chung và LĐNNC nói riêng hết sức khó khăn.Họ mong muốn có việc làm, thu nhập ổn định, có thể trang trải cuộc sống và tiết kiệm gửi về giúp gia đình; đồng thời họ cũng mong muốn có nhà ở để “an cƣ lạc nghiệp”, xây dựng hạnh phúc gia đình và có điều kiện hòa nhập với dân cƣ nơi đến. Để giúp LĐNNC yên tâm làm việc, đóng góp vào sự phát triển của xã hội, đồng thời làm tốt thiên chức của ngƣời phụ nữ trong gia đình là vấn đề rất quan trọng nhƣng rất khó khăn, phức tạp; trong đó vai trò của chính sách, đặc biệt là chính sách xã hội có tính chất quyết định. Khái niệm, nhu cầu và nguyên tắc của công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cƣ 1. Khái niệm công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư Bài viết này lấy một số quan niệm sau làm nền tảng cho việc đi tìm hiểu sâu hơn về công tác xã hội: Thứ nhất, quan niệm của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”.
Thứ hai, quan niệm của Hiệp hội cán sự công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7-2000 tại Montreal - Canada (IFSW): "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề". Các quan niệm này nhìn nhận CTXH xoay quanh trục định hƣớng can thiệp đến cá nhân, nhóm và cộng đồng nhằm giúp các đối tƣợng này tự phát triển, tự quyết định những vấn đề của bản thân.
CTXH đƣợc xem là một hoạt động chuyên môn giúp đỡ các cá nhân, nhóm, hoặc cả cộng đồng nhằm nâng cao hay khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội và kiến tạo các điều kiện xã hội phù hợp với 11 việc thực hiện mục tiêu này. Các hoạt động thực hành CTXH đều bao gồm việc áp dụng những hoạt động chuyên môn về các giá trị CTXH, các nguyên tắc, và các kỹ năng đối với một hoặc một số mục đích: Giúp đỡ các cá nhân có đƣợc các dịch vụ bền vững, tạo dựng đƣợc các dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý với cá nhân, gia đình và nhóm; giúp đỡ các cộng đồng hoặc các nhóm cung cấp hay cải thiện các dịch vụ xã hội và sức khỏe; và tham gia vào các tiến trình lập pháp phù hợp. Thực hành CTXH đòi hỏi có đƣợc hệ thống tri thức về phát triển và hành vi con ngƣời; về các thiết chế văn hóa, kinh tế, xã hội và về tƣơng tác của những thành tố khác. Nhƣ vậy: CTXH đối với lao động nữ nhập cư là các hoạt động nhằm giúp cá nhân LĐNNC, nhóm LĐNNC nhằm giúp họ tiếp cận các dịch vụ xã hội, cải thiện cuộc sống vật chất, tinh thần, tự tin trong lao động, sinh hoạt để hòa nhập tốt với nơi đến, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế-xã hội của địa phƣơng.
Nhu cầu về công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư Theo quan điểm A.Maslow chia nhu cầu thành 5 loại: - Nhu cầu vật chất (sinh lý): thức ăn, không khí, nƣớc uống… - Nhu cầu an toàn (bảo vệ): nhà ở, làm việc, sức khỏe… - Nhu cầu giao tiếp xã hội: tình thƣơng, đƣợc hòa nhập - Nhu cầu đƣợc tôn trọng: đƣợc chấp nhận có một vị trí trong một nhóm ngƣời… - Nhu cầu tự khẳng định mình: nhu cầu hoàn thiện, đƣợc thể hiện khả năng và tiềm lực của mình. LĐNNC là đối tƣợng yếu thế, phải rời xa quê hƣơng, gia đình để đến đô thị tìm kiếm việc làm, sinh sống trong điều kiện tạm bợ, khó khăn về mọi mặt. Nhu cầu về CTXH của LĐNNC để đáp ứng đƣợc 05 loại nhu cầu theo quan điểm của A.Maslow là nhu cầu quan trọng và cần thiết. CTXH phải kết nối đƣợc các dịch vụ xã hội cơ bản đáp ứng các nhu cầu CTXH của LĐNNC.
Dịch vụ xã hội cơ bản là nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản, thiết yếu nhất của con ngƣời. Nếu nhƣ dịch vụ là một khái niệm đơn lẻ thì dịch vụ xã hội lại là một khái niệm kép. Thuật ngữ “xã hội” trong khái niệm này có thể đƣợc hiểu theo 2 nghĩa: 12 Thứ nhất là, tính mục tiêu, nghĩa là dịch vụ hƣớng tới phát triển xã hội (theo nghĩa này thì bất kỳ dịch vụ nào đóng góp vào mục tiêu phát triển xã hội đều đƣợc coi là dịch vụ xã hội). Thứ hai, về chuẩn mực hay tính xã hội, nghĩa là dịch vụ để bảo đảm các giá trị, chuẩn mực xã hội.