Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Khái niệm chính sách và chính sách công Để hiểu rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu trong luận văn này thì việc tiếp cận và làm rõ khái niệm chính sách, chính sách công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chính sách Thuật ngữ “chính sách” dù được sử dụng phổ biến ở nhiều phương diện của đời sống xã hội nhưng đến nay vẫn chưa có nhận thức thống nhất được nội hàm của nó. Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary), chính sách là “đường lối hành động được thông qua bởi chính quyền, nhà cai trị và chính khách”.
Đáng chú ý ở định nghĩa này chính là (i). xác định rõ bản chất của chính sách - “đường lối” (nhấn mạnh đến cách thức, biện pháp giải quyết các vấn đề phát sinh nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng), (ii). Sự đa dạng của chủ thể của chính sách (chính sách là công cụ của nhiều chủ thể nhằm đạt được mục tiêu, cả trong khu vực công và khu vực tư). Theo nhà nghiên cứu Hugh Heclo (1972), chính sách là đường lối hành động và không hành động thay vì những quyết định/ hành động cụ thể.
Có lẽ, chính sách công theo quan điểm của Helco chính là giải pháp có tính định hướng, dẫn dắt hơn là các hoạt động, kế hoạch để giải quyết các công việc cụ thể của các chủ thể. Đối với Smith (1976), nhà nghiên cứu này cho rằng, chính sách bao hàm cả sự lựa chọn có tính chủ đích của hành động hoặc không hành động. Quan điểm này đúng trong nhiều trường hợp song không phải là tất cả. Trong chính 14 sách, việc ứng phó với các vấn đề bằng sự “im lặng” (tức không hành động) đôi khi phản ánh sự hạn chế về tầm nhìn, tư duy chính sách, sự yếu đuối của chủ thể để giải quyết các vấn đề đặt ra.
Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa,. Trong khi đó, Từ điển tiếng Việt thì định nghĩa, chính sách “là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị và tình hình thực tế mà đề ra” [23, tr.
Như vậy, kế thừa các nghiên cứu trên đây, chính sách trong nghiên cứu này được hiểu là tập hợp các quyết định (chứa đựng mục tiêu, nội dung và giải pháp) do các chủ thể ban hành nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh hoặc được quan tâm. Chính sách công Nội hàm của chính chính sách công không đơn thuần là sự gắn ghép một cách cơ học của hai thuật ngữ thành phần mà bản thân nó phản ánh sự khác biệt về chất, đặc trưng cốt lõi. Quá trình nhận thức về chính sách công là lâu dài, ngày càng hoàn thiện với các khuynh hướng tiếp cận khá đa dạng. Quan điểm của Thomas Dye (1972) thì cho rằng “chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”.
Cách tiếp cận này khá giống với nhận thức về chính sách của Hugh Heclo và Smith đã giới thiệu hay cách mà nhà nghiên cứu Pal bàn luận [4, tr. Đáng lưu ý, chính sách công theo cách tiếp cận của Dye là sản phẩm hành động của nhà nước chứ không phải của các chủ thể phi nhà nước. 15 Nhà nghiên cứu William Jenkins (1978) thì cho rằng, “chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền” [29, tr. Quan điểm của Jenkins giúp nhận thức về bản chất của chính sách công rõ ràng hơn.
Đó là sự mở rộng về chủ thể chính sách công - nhà hoạt động chính trị (ngoài thiết chế ( nhà nước), xác định tính hệ thống của chính sách công - “tập hợp các quyết định có liên quan với nhau” và nhất là làm rõ cấu trúc của bản chính sách bao gồm mục tiêu và phương tiện thực hiện chính sách. Dunn (1992) trong các nghiên cứu của mình thì cho rằng, chính sách công là kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ qun nhà nước hay công chức nhà nước đề ra [4, tr. Như nhiều nghiên cứu của các tác giả trước, N. Dunn cũng khẳng định tính tập hợp, thống nhất của bản chính sách công, chủ thể là nhà nước.
Đặc biệt, ông dùng “sự lựa chọn” khi nói về chính sách công để khẳng định tính cân nhắc nhiều chiều trước khi khởi sự vòng đời một chính sách và vì vậy điều này giúp phân biệt với các quyết định hành chính của các cơ quan nhà nước để giải quyết từng vụ việc cụ thể. Tác giả Birkland trong quá trình thu thập các cách hiểu phổ biến về chính sách đã đưa ra 5 nội dung cơ bản về chính sách công, tựu chung: (i). Chủ thể chính sách công là chính phủ; (ii). chính sách công mang tính thực tiễn, hành động có ảnh hưởng đến đời sống công dân (iii).
chính sách công phải gắn với sự cân nhắc các mục tiêu khi hành động để hài hòa lợi ích các bên liên quan; (iv). hình thức biểu hiện là các quyết định chính trị,. Gần đây, một số học giả uy tín trong giới chính sách cũng bước đầu hoàn thiện cách tiếp cận của mình về chính sách công. Chẳng hạn, James Anderson 16 cho rằng chính sách công là đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc tập hợp các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm [29, tr.
Quan điểm này đáng chú ý bởi đã giúp mở rộng quan điểm về chủ thể chính sách công - “các nhà hoạt động” thay vì chỉ duy nhất các nhà hoạt động trong bộ máy nhà nước như W. Dye đã bàn luận. Ngoài ra, hai tác giả là Kraft và Furlong (2004) cho rằng, chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình [8].
Ở Việt Nam, nhận thức về chính sách công phản ánh quá trình tiếp cận với nghiên cứu quốc tế và sự hoàn thiện dần các hướng tiếp cận trong nghiên cứu, thậm chí mang tính đặc thù. Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì định nghĩa chính sách công là “chủ trương và biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội” [9, tr. 222] và quan điểm này hoàn toàn thống nhất trong Từ điển Tiếng Việt thông dụng (1998). Viện Chính trị học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) thì cho rằng “chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [24, tr.
235] hay một tập thể tác giả khác thì đánh giá “chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan đến nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được mục tiêu phát triển” [6, tr. Bên cạnh đó, tác giả Lê Chi Mai (2008) cũng đã đưa ra một cách hiểu về thuật ngữ chính sách công dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - 17 xã hội theo mục tiêu xác định. Tác giả Nguyễn Hữu Hải (2013) thì cho rằng: “chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định” [3, tr. Ngoài những nội hàm khá thống nhất với các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Đỗ Phú Hải (2017) trong tác phẩm của mình thì quan niệm “chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để “lựa chọn” mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” [4, tr.
Nổi bật của quan niệm này chính là tính “cân nhắc” “lựa chọn” các vấn đề thuộc về chính sách công cũng như xác lập mối quan hệ giữa nhà nước và đảng chính trị đối với vòng đời chính sách công. Trong bài nghiên cứu của mình “Bàn về khái niệm chính sách công”, tác giả Hồ Việt Hạnh tuy không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về chính sách công nhưng với 7 cách tiếp cận chính sách công từ góc độ quyền lực trong sự so sánh với chính sách tư đã cung cấp nhiều nhận thức mới mẻ, có tính gợi mở cao về chính sách công gắn với thực tiễn Việt Nam như “cộng đồng chính sách công, tính tương đối của chính sách công, quan trọng là bảo vệ quan điểm “Đảng, Nhà nước” là hai thực thể của chính sách công xuất phát từ đặc thù lịch sử của Việt Nam [5, tr. Thông qua các cách tiếp cận từ các nhà nghiên cứu trong, ngoài nước, để phục vụ nghiên cứu luận văn này thì khái niệm chính sách công được hiểu là tập hợp các quyết định (chứa đựng mục tiêu, giải pháp và công cụ) do các chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công ban hành nhằm giải quyết các vấn đề chung, qua đó thúc đẩy xã hội phát triển hài hòa, bền vững. Khái niệm người khuyết tật Theo tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap).
Khiếm khuyết chỉ dẫn đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật là đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ.