CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Một số khái niệm 1. Người khuyết tật 1. Khuyết tật Có nhiều cách hiểu cũng như nhiều định nghĩa khác nhau về khuyết tật, tuy nhiên mỗi cách hiểu đều xét trên những mục đích và quan điểm khác nhau.
Từ “khuyết tật” có nguồn gốc từ “disability” trong tiếng Anh. Theo nguyên ngữ từ này có nghĩa là sự hàm ý hạn chế hoặc thiếu khả năng thực hiện một hoạt động gì đó do có khiếm khuyết.23] Từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu mất một bộ phận, một phần; từ “tật” có nghĩa là “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” trong từ điển Tiếng việt. Như vậy, có thể hiểu khuyết tật là khiếm khuyết ở một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết chức năng ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.7] Trong hệ thống “Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe” (ICF) (năm 2001) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa khuyết tật như sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác)”.
Như vậy, với khái niệm này có thể hiểu “khuyết tật” chỉ đơn giản là bị khiếm khuyết mà không phải xác định nguyên nhân của một dạng khuyết tật. Như vậy, định nghĩa khuyết tật theo cách tiếp cận khái niệm mới có thể hiểu là: “Tình trạng thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí và sinh hoạt”. Người khuyết tật Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NKT ở các quốc gia khác như Úc, Anh hay Trung Quốc, song tựu chung lại đều xoay quanh hai vấn đề đó chính là các khiếm khuyết hay sự suy giảm các chức năng khác nhau và những điều đó cản trở cá nhân tham gia một cách bình thường vào cuộc sống xã hội. 9] Trong phạm vi đề tài, tác giả sử dụng định nghĩa về NKT theo Luật Người khuyết tật Việt Nam ban hành vào năm 2010.
Đây là định nghĩa khá đầy đủ, tổng hợp được các cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam, đó là: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Chính sách đối với người khuyết tật 1. Chính sách Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội. Có nhiều cách tiếp cận để đưa ra khái niệm về chính sách được thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau.
Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như: chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế…, trong các loại chính sách chung lại có các chính sách đối với từng lĩnh vự, chính sách cụ thể tuỳ thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế - xã hội. Nói một cách chung nhất, ở Việt Nam, khái niệm chính sách lần đầu tiên được xác định trong văn bản quy phạm pháp luật cao nhất của Chính phủ: theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015: “Chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đặt được mục tiêu nhất định”. Chính sách đối với người khuyết tật Chính sách đối với NKT là các quan điểm, thái độ, quyết sách, quyết định chính trị của nhà nước đối với NKT với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm bảo đảm cho NKT được thụ hưởng các quyết định và tự do cơ bản như mọi công dân. Đó là các chính sách và chương trình hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng; trợ giúp giáo dục và Luan van 11 y tế, chỉnh hình, phục hồi chúc năng; hỗ trợ học nghề, tạo việc làm; chính sách và chương trình tiếp cận các công trình công cộng; tham gia giao thông và công nghệ thông tin đối với NKT; chính sách và chương trình hỗ trợ gia đình có NKTt; các chương trình mục tiêu, mục tiêu quốc gia trong đó có hợp phần hoặc nội dung liên quan đến NKT và các chương trình dành riêng cho NKT.
Nội dung của chính sách đối với người khuyết tật Theo Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật mà Việt Nam đã được tham gia ký kết, Luật Người khuyết tật và một số Nghị định có liên quan, chính sách dành cho NKT được thể hiện ở 9 nội dung cơ bản như sau: Một là chính sách chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng; Hai là chính sách giáo dục; Ba là chính sách giáo dục nghề nghiệp, tạo việc làm; Bốn là chính sách bảo trợ xã hội; Năm là hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao và du lịch; Sáu là việc tiếp cận và sử dụng các công trình công cộng; Bảy là việc tiếp cận, sủ dụng và tham gia giao thông; Tám là tiếp cận và sử dụng các dịch vụ bưu chính viễn thông và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; Chín là việc trợ giúp pháp lý. Tổ chức thực hiện chính sách đối với người khuyết tật Tổ chức thực hiện chính sách đối với NKT là toàn bộ quá trình biến các quan điểm cách thức, biện pháp của Nhà nước thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hóa các chính sách đối với NKT. Đó là các kết quả thực hiện các chính sách về bảo trợ xã hội, về trợ giúp về y tế, giáo dục, về trợ giúp học nghề, việc làm, về các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và tiếp cận với các dịch vụ công cộng (công trình xây dựng, tham gia giao thông, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông), về trợ giúp pháp lý… Từ đó, giúp cho NKT phát triển với khả năng của mình, xóa đi những mặc cảm, phát triển và hòa nhập với cộng đồng như những người bình thường khác, nhằm đảm bảo thực hiện quyền của NKT, góp phần hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển Luan van 12 con người toàn diện. Vai trò, ý nghĩa tầm quan trọng của thực hiện chính sách đối với người khuyết tật 1.
Thực hiện chính sách đối với người khuyết tật nhằm biến ý định của chủ thể chính sách thành hiện thực Thực hiện chính sách đối với NKT là quá trình biến quyết định, quyết định chính trị của nhà nước đối với NKT thành hiện thực nhằm đảm bảo cho NKT được thụ hưởng các quyền và tự do của công dân. Tổ chức thực hiện đưa chính sách đối với NKT vào thực tiễn cuộc sống, không chỉ mang lại lợi ích to lớn cho những NKT mà còn góp phần làm tăng uy tín của Nhà nước và sự tin tưởng của người dân vào Nhà nước. Tổ chức thực hiện chính sách đối với NKT là khâu hợp thành quy trình chính sách, có ý nghĩa quyết định trong thực hiện mục tiêu chính sách; là nhiệm vụ tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và để đạt được mục tiêu của chính sách và mong muốn của NKT. Tổ chức thực hiện chính sách đối với người khuyết tật nhằm từng bước hiện thực hóa các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung Tổ chức thực hiện chính sách đối với NKT vào cuộc sống cho thấy rõ và cụ thể nhất những ưu điểm và hạn chế của chính sách, đồng thời cho kết quả chính xác để xác định mức độ đạt được của mục tiêu chính sách đã đề ra.
Từ đó các nhà hoạch định, xây dựng chính sách đối với NKT có căn cứ để điều chỉnh, hoàn thiện nhằm từng bước thực hiện mục tiêu của chính sách. Tổ chức thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách đối với NKT không chỉ do một cơ quan hay tổ chức đảm nhận mà cần phải có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau. Vì vậy, thông qua tổ chức thực hiện chính sách đối với NKT sẽ góp phần thúc đẩy sự phối hợp của các cơ quan, các ngành các cấp. Chính sách đối với NKT là một trong các chính sách xã hội (CSXH) quan trọng của nhà nước.
Tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu chính sách đối với NKT cũng là để đạt được mục tiêu chung của chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tổ chức thực hiện chính sách đối với người khuyết tật nhằm khẳng định tính đúng sai của chính sách Luan van 13 Như trên đã nêu, tổ chức thực hiện chính sách đối với NKT là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực đối với các đối tượng chính sách nhằm đạt được các yêu cầu của quản lý, quản trị Nhà nước, là trung tâm kết nối các khâu trong chu trình chính sách đối với NKT. Hoạch định được chính sách đúng và có chất lượng đối với NKT là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách đối với NKT còn quan trọng hơn. Có chính sách đúng đối với NKT nhưng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước.
Nếu chính sách đối với NKT không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của người dân và NKT đối với Nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây khó khăn, bất ổn cho Nhà nước trong công tác quản lý. Qua tổ chức thực hiện chính sách đối với NKT mới biết được chính sách đó có đúng, có phù hợp, có đi vào cuộc sống hay không.