Phần mở đầu, tổng quan, 3 chƣơng với 7 tiết, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. luan an 7 TỔN QU N TÌN ÌN N N ỨU L N QU N ẾN Ề T LUẬN N 1. Những công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Những công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng A.
Cuốn sách là một tác phẩm lý luận tổng kết về công tác tƣ tƣởng trong các lực lƣợng vũ trang Liên Xô, rút ra những vấn đề vừa có tính chất nguyên tắc, vừa có tính chất hƣớng dẫn hành động, gắn liền với việc xây dựng lực lƣợng vũ trang trong thời kỳ hiện đại. Quan điểm tổng hợp trong tổ chức công tác tƣ tƣởng yêu cầu phải “sử dụng rộng rãi và khéo léo tất cả các phƣơng tiện giáo dục tƣ tƣởng có trong tay. Đấy là tất cả các hình thức học tập chính trị; các hoạt động quần chúng; các cuộc nói chuyện riêng với từng ngƣời; các hình thức cổ động bằng hình ảnh và hiện vật cụ thể” [1, tr. Cuốn sách đã phân tích toàn diện hoạt động tƣ tƣởng của Đảng Cộng sản Liên Xô: Cơ sở lý luận và những nguyên tắc của CTTT; nội dung phong phú và toàn diện của CTTT; những hình thức và phƣơng pháp làm CTTT; sự chỉ đạo CTTT của Đảng Cộng sản; việc đào tạo cán bộ làm CTTT; cuộc đấu tranh tƣ tƣởng và sự phối hợp của các tổ chức trong CTTT.
Hình thức CTTT gồm công tác giáo dục chính trị - tƣ tƣởng, tuyên truyền và cổ động. Chƣơng Tƣ Nghị (chủ biên) (1987) Giáo trình công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (dùng trong các học viện, nhà trường trong thời kỳ mới)”, [82]. Cuốn sách đã đề cập đến: vấn đề tƣ tƣởng của cán bộ, chiến sĩ vô cùng rộng lớn và phức tạp, đặc biệt nó càng nổi bật vào thời kỳ có biến đổi lớn. Nhƣng dù phức tạp thế nào, vấn đề tƣ tƣởng của CBCS ngoài việc phát sinh trên, những vấn đề về tình hình trong nƣớc và quốc tế, nhận thức về phƣơng châm, chính trị lớn của Đảng và nhà nƣớc, phần lớn đều phản ánh trên mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích trƣớc mắt và lợi ích lâu dài, phản ánh mối luan an 8 quan hệ giữa chỉ huy và chiến sĩ, giữa trên và dƣới, giữa đồng chí với nhau và giữa quân với dân.
Giáo dục lý tƣởng đạo đức và kỷ luật chung có tác dụng đặc biệt to lớn đối với việc giải quyết vấn đề tƣ tƣởng trên những nội dung nêu trên. Cuốn sách cũng đã đề cập đến giải pháp: làm tốt CTTT đối với những cá nhân cá biệt, đặc biệt là công tác làm chuyển biến những chiến sĩ chậm tiến. Đối với những đồng chí này, càng cần đƣợc chú ý giáo dục hơn, nỗ lực kiên trì không mệt mỏi; phải căn cứ vào thực tế để khẳng định sở trƣờng và ƣu điểm của họ, thực sự đi sâu tìm hiểu thế giới nội tâm của họ, quan tâm gần gũi họ, lấy tình thƣơng làm họ cảm động, “lấy lý lẽ làm họ thấu hiểu, để có thể làm họ phát huy những nhân tố tích cực, khắc phục những nhân tố tiêu cực, phấn đấu để tiến bộ; cần phải dùng phƣơng châm ngăn trƣớc, ngừa sau, chữa bệnh cứu ngƣời để đối xử với các đồng chí đã phạm sai lầm” [82, tr. Tôn Kế Lƣơng (2002), Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cơ sở đăng trên Báo Quân giải phóng Trung Quốc ngày 09-01-2002 cho rằng để nâng cao hiệu quả công tác GDCT-TT cho quân nhân cần đổi mới hình thức, phƣơng pháp giáo dục; điều chỉnh và thiết kế nội dung giảng dạy một cách khoa học theo tình huống mới, vấn đề mới xuất hiện, nhằm nắm bắt kịp thời quan điểm tƣ tƣởng, xu hƣớng giá trị; gắn giáo dục bằng phƣơng pháp thuyết phục và gắn với giáo dục pháp luật và kỷ luật [75].
Xắcxavắt Xuânthêpphimmason (2003), “CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào hiện nay” (2003), luận án Tiến sĩ Lịch sử. Tác giả đã luận giải làm rõ tính cấp thiết của CTTT trong sự nghiệp đổi mới, phân tích các quan điểm, nguyên tắc CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào; đánh giá thực trạng, rút ra những kinh nghiệm về CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào thời gian qua; đề xuất phƣơng hƣớng và các giải pháp để tăng cƣờng hơn nữa CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào hiện nay. Khi luận bàn về giải pháp đổi mới phƣơng thức CTTT, luận án cho rằng: Đổi mới phƣơng thức hoạt động của CTTT đòi hỏi phải không ngừng căn cứ vào đặc điểm tình hình, vào sự thay đổi của đối tƣợng mà “tìm tòi những phƣơng thức sinh hoạt đảng phong phú, đa dạng nhằm phát huy cao nhất vai luan an 9 trò tƣ duy của tƣ tƣởng và CTTT của Đảng, không có một phƣơng thức nào có thể áp dụng mọi lúc, mọi nơi cho mọi hoạt động” [123, tr. Khi bàn về đổi mới nội dung CTTT, luận án cho rằng: Đổi mới nội dung CTTT phải bám sát vào thực tiễn, dùng dẫn chứng trong thực tiễn để chứng minh.
Nội dung CTTT phải bám sát chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc Lào; phù hợp với từng đối tƣợng, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ; mang tính dân chủ rộng rãi giúp cho mọi ngƣời hăng hái tham gia lao động, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh [123]. Trần Khang, Lê Cự Lộc dịch (2003), Nguyên tắc tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ đổi mới”, [64]. Cuốn sách đã phân tích về công tác tuyên truyền tƣ tƣởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc phải nắm vững hai điểm cốt yếu: “Một là, phải thống nhất với Trung ƣơng về tƣ tƣởng, về chính trị, về hành động, tăng cƣờng và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền tƣ tƣởng; Hai là, phải phát huy dân chủ một cách đầy đủ, nâng cao quan điểm quần chúng” [64, tr. Nội dung cơ bản của công tác chính trị tƣ tƣởng xác định lấy giáo dục niềm tin vào lý tƣởng làm cốt lõi, triển khai mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục trên các mặt lý luận cơ bản, đƣờng lối cơ bản, cƣơng lĩnh cơ bản của Đảng, chủ nghĩa yêu nƣớc, chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa xã hội.
Triển khai giáo dục tƣ tƣởng quan trọng về “ba đại diện” (đại diện cho yêu cầu phát triển lực lƣợng sản xuất xã hội tiên tiến, đại diện cho sự phát triển văn hóa tiên tiến, đại diện trung thực cho lợi ích căn bản của đông đảo nhân dân Trung Quốc) và “ba chú trọng” (chú trọng học tập, chú trọng chính trị, chú trọng đạo đức) cho toàn thể đảng viên, cán bộ. Giáo dục tinh thần “uống nƣớc nhớ nguồn”, “ngƣời giàu rồi phải giàu hơn nữa”. Kết hợp chặt chẽ giữa đức trị và pháp trị và giáo dục lý luận về chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần, giáo dục tri thức khoa học, tinh thần khoa học và phƣơng pháp khoa học. Nguyên tắc, phƣơng châm của CTTT đó là lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình làm tƣ tƣởng chỉ đạo [64].
BunĐuông CayXỏn (2008), Chất lượng Công tác tư tưởng của các Đảng bộ tỉnh đồng bằng miền Trung, nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay”, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, luận án luan an 10 Tiến sĩ. Luận án đã đánh giá thực trạng chất lƣợng CTTT của 4 tỉnh: Viêng Chăn, Bô Li Khăm Xay, Khăm Muộn và Xa Văn Na Khệt từ năm 1996 đến năm 2008. Chỉ ra đƣợc nguyên nhân và kinh nghiệm, từ đó tác giả đề ra phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng CTTT của các đảng bộ tỉnh đồng bằng miền Trung của nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời kỳ mới [22]. Chu Hiển Tín, Phùng Linh Chi (2008), Tăng cường sự hấp dẫn và sức quy tụ của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lý luận Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, (Trung Quốc), số tháng 10.
Bài viết đã khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh CTTT và phƣơng hƣớng đối với CTTT theo tinh thần Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm thực hiện tốt mục tiêu chiến lƣợc “Xây dựng hệ giá trị nòng cốt của chủ nghĩa xã hội, tăng cƣờng sự hấp dẫn và sức quy tụ của hệ tƣ tƣởng xã hội chủ nghĩa”. Các tác giả khẳng định: “Không đƣợc để khoảng trống trên trận địa văn hoá, tƣ tƣởng, ý thức, nếu chủ nghĩa Mác, tƣ tƣởng xã hội chủ nghĩa không chiếm lĩnh thì các loại học thuyết phi mác - xít, hệ tƣởng phi chủ nghĩa xã hội sẽ chiếm lĩnh ngay lập tức [113]. OnKẹo PhômMaKon (2008), Đổi mới, kiện toàn hệ thống tổ chức của đảng và hệ thống chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Lào, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Trong bài viết tác giả đã làm rõ một số vấn đề chính về: (1) Vị trí, vai trò của việc đổi mới, kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị từ trung ƣơng đến cơ sở trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc CHDCND Lào; (2) Thực trạng đổi mới, kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức và hệ thống chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc CHDCND Lào; (3) Đƣa ra quan điểm, giải pháp đổi mới trong việc kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị trong quá trình phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Lào [88].
BunPheeng SiPaSợt (2010), Chất lượng tổ chức cơ sở Đảng ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới, luận án Tiến sĩ Khoa học luan an 11 chính trị. Luận án đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn chất lƣợng tổ chức cơ sở đảng, đề xuất giải pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng ở các sƣ đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới hiện nay [23]. Bành Lập Binh (2013), Tăng cường xây dựng tác phong cán bộ thiết thực thực hiện vì dân, thực tế, thanh liêm. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bài viết khẳng định đƣợc vai trò của giáo dục tƣ tƣởng trong xây dựng tác phong cán bộ.