phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương, 10 tiết với các nội dung chính như sau: Chƣơng 1: Nêu một số khái niệm về “Thông tin đối ngoại”, “Người Việt Nam ở nước ngoài”, “Việt kiều”, “Kiều bào”. Tiếp đó, Luận văn nêu khái quát về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, từ lịch sử hình thành đến tình hình hiện nay của Cộng đồng; Luận văn khẳng định tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài và nêu những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác thông tin tuyên truyền, vận động kiều bào. Chƣơng 2: Luận văn đánh giá chung về tình hình công tác thông tin đối ngoại. Trình bày thực trạng công tác thông tin đối ngoại cho NVNONN trong thời gian qua, phân tích và đánh giá đưa ra những thành công và hạn chế của công tác này, tìm hiểu nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó.
Chƣơng 3: Luận văn đã đưa ra phương hướng và trình bày một số nhóm giải pháp để đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại cho NVNONN trong thời gian tới. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI CHO NGƢỜI VIỆT NAM Ở NƢỚC NGOÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Thông tin đối ngoại Khái niệm “Thông tin đối ngoại”, “Hoạt động thông tin đối ngoại” và “Công tác thông tin đối ngoại” ngày càng xuất hiện nhiều trong các tư liệu về chính sách đối ngoại của hầu hết các quốc gia, các vùng lãnh thổ, các tổ chức và phong trào trên thế giới.
Cùng với sự phát triển đa dạng của các loại hình truyền thông, thuật ngữ “Thông tin đối ngoại” cũng ngày càng phổ biến hơn và trở nên quen thuộc. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu mang tính chuyên môn, khoa học hay chính thống về thuật ngữ này. Theo từ điển tiếng Việt, “Thông tin” là “Truyền tin cho nhau để biết” [80, tr. 953] , “Đối ngoại” là “Đối với nước ngoài, bên ngoài, nói về đường lối, chính sách, sự giao thiệp của một Nhà nước, một tổ chức” [80, tr.
338] Với tính chất như trên, “Thông tin đối ngoại có thể được hiểu là những tin tức, thông báo, tri thức về một sự vật, hiện tượng được con người tiếp nhận và chọn lựa một cách có chủ đích để sử dụng trong hoạt động truyền tải thông điệp ra bên ngoài lãnh thổ một quốc gia hay cho các đối tượng là người nước ngoài nhằm mục đích cung cấp thông tin chính thống, xác thực và tích cực nhằm nâng cao hình ảnh quốc gia đó trong mắt bạn bè quốc tế” [45]. Ở trên thế giới có một thuật ngữ khá tương đồng với thuật ngữ “thông tin đối ngoại” đó là “public diplomacy” – “ngoại giao công chúng”. Theo Trung tâm Ngoại giao nhân dân Edward R.Murrow, thuộc Đại học Tufts, Hoa Kỳ thuật ngữ “Public diplomac” được định nghĩa như sau: “Ngoại giao công chúng liên quan đến những ảnh hưởng của thái độ công chúng đối với sự hình thành và thực hiện các chính sách ngoại giao; Nó bao gồm sự đa chiều trong 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan hệ quốc tế vượt ra ngoài phạm vi ngoại giao truyền thống; Sự tác động của một chính phủ lên quan điểm của nhân dân các nước khác; Sự tương tác giữa các nhóm cá nhân và các nhóm lợi ích trong một quốc gia với quốc gia khác; Tình hình quốc tế và những tác động của nó lên các chính sách; Sự thông tin giữa những người làm về thông tin như các nhà ngoại giao và phóng viên nước ngoài, quá trình truyền thông xuyên văn hoá.” Theo Từ điển Thuật ngữ Quan hệ quốc tế của Uỷ ban Quốc gia Mỹ, “public diplomacy” chỉ những chương trình thuộc bảo trợ của chính phủ nhằm thông tin hoặc tác động lên quan điểm của nhân dân của nước khác, mà công cụ chính là thông qua các ấn phẩm, phim ảnh, giao lưu văn hoá, phát thanh, truyền hình” [78, tr. Có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung qua đó đều thấy rằng ngoại giao công chúng hay “public diplomacy” ở bất cứ quốc gia nào cũng chính là việc tuyên truyền, quảng bá các chính sách chính trị, các giá trị văn hoá của nước mình ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia nhằm mục tiêu tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới và từ đó tăng cường lợi ích của đất nước mình.
Từ cách hiểu thông tin đối ngoại nêu trên, khái niệm “hoạt động thông tin đối ngoại” được hiểu là hoạt động giao lưu, trao đổi, thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa một quốc gia với các chủ thể khác bên ngoài biên giới quốc gia đó. Hoạt động thông tin đối ngoại là một trong những hoạt động căn bản của bất kỳ quốc gia dân tộc nào nhằm tăng cường lợi ích cũng như đẩy mạnh vai trò, vị thế của mình trên trường quốc tế. Với mục đích xây dựng, củng cố và duy trì hình ảnh tốt đẹp cũng như mối quan hệ bền vững của quốc gia mình đối với các quốc gia khác, hoạt động thông tin đối ngoại chính là hoạt động trao đổi thông tin về các đường lối chính sách của nhà nước cũng như hoạt động đưa tin quảng bá giới thiệu về tình hình kinh tế văn hoá – xã hội của quốc gia đó với bạn bè thế giới. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài ra, “Thông tin đối ngoại” còn được hiểu theo những cách khác: là một dạng thông tin, là một lĩnh vực đào tạo, là một lĩnh vực hoạt động.
Là một dạng thông tin về khoa học xã hội, thông tin đối ngoại được hiểu là những tin tức, thông báo, tri thức về một hiện tượng, sự việc được chứa đựng trong các hình thức nhất định được con người tiếp nhận, lựa chọn sử dụng trong các phương thức thích hợp trong hoạt động thông tin đối ngoại. Là một lĩnh vực đào tạo, thông tin đối ngoại có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, đại học, có khả năng thực hiện những chức trách của người làm công tác thông tin đối ngoại, công tác tổ chức, quản lý hoạt động thông tin đối ngoại của các cơ quan, các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các doanh nghiệp hoặc thực hiện các chức trách đòi hỏi sự hiểu biết cơ bản hệ thống, kỹ năng, lý luận, nghiệp vụ thông tin đối ngoại. Là một lĩnh vực hoạt động, thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài (gồm cả người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những cách hiểu trên có thể thấy tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại trong thời đại mới, nhất là hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hoá và hợp tác kinh tế quốc tế, thông tin đối ngoại ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Thông tin đối ngoại đã, đang và sẽ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc. Chỉ thị số 10/2000/CT- TTg ngày 26/04/2000 của Thủ tướng Chính phủ “Về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại” nêu 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rõ: “Thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống, và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc”. Khái niệm “Ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài”, “Việt kiều” và “kiều bào” - Khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” hiện nay dùng để chỉ tất cả những người có nguồn gốc Việt Nam cư trú ở nước ngoài, không phân biệt hệ thống chính trị, mang quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch của nước đang cư trú. Khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” lần đầu tiên được giải thích một cách chính thức trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, tại Điều 2, Khoản 3 định nghĩa “người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài”.
Trong Luật quốc tịch Việt Nam, Quốc hội thông qua năm 2008, Điều 3 quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài; Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Năm 1993, Ban Việt kiều Trung ương cũng được đổi tên thành Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài. Có thể nói đây là khái niệm rộng nhất, bao hàm tất cả các đối tượng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch hay cư trú. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về ngữ nghĩa, từ “kiều” gốc Hán Việt, mang hàm ý xa xôi, sống phiêu bạt ở xứ người.
Khi từ “kiều” được ghép với danh từ riêng, tên gọi một quốc gia hay một dân tộc, trở thành danh từ mang nghĩa “kiều dân” của một quốc gia sống ở nước ngoài. Ví dụ: Hoa kiều, Ấn kiều là người dân tộc Trung Hoa, Ấn Độ sống ở nước ngoài. Tương tự, từ “Việt kiều” dùng để chỉ người Việt Nam sống ở nước ngoài, cũng như “Ấn kiều”, “Hoa kiều” ở Việt Nam là kiều dân của các nước Ấn Độ, Trung Hoa làm ăn, lập nghiệp, thậm chí sinh trưởng tại Việt Nam. Trước năm 1975, do điều kiện lịch sử, vấn đề quốc tịch không đặt ra (một phần vì nó quá phức tạp, đa dạng, nên tự nó cũng không có ý nghĩa quan trọng), nên từ rất sớm “Việt kiều” được hiểu theo nghĩa rộng nhất để chỉ tất cả những người Việt Nam cư trú ở nước ngoài.