Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của xuất khẩu dịch vụ viễn thông và phần mềm trong bối cảnh Việt Nam hội nhập WTO. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ viễn thông và phần mềm của Việt Nam. Định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ viễn thông và phần mềm trong bối cảnh Việt Nam hội nhập WTO.
1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XUẤT KHẨU DỊCH VỤ VIỄN THÔNG VÀ PHẦN MỀM TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI NHẬP WTO 1. Khái niệm về xuất khẩu dịch vụ viễn thông và xuất khẩu phần mềm 1. Các khái niệm liên quan đến dịch vụ viễn thông và dịch vụ phần mềm 1. Khái niệm chung về dịch vụ Xã hội càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và phong phú.
Bên cạnh những sản phẩm, hàng hóa hữu hình, nhu cầu sử dụng các dịch vụ cũng ngày càng gia tăng. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ của con người, các hoạt động cung ứng dịch vụ diễn ra rất đa dạng, ở khắp mọi nơi. Dịch vụ đang được coi là ngành công nghiệp không khói và có vị trí trí đáng kể trong hệ thống các ngành kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy mà có rất nhiều tài liệu nghiên cứu đã bàn đến các khía cạnh khác nhau của khu vực dịch vụ.
Trong thời gian qua, một số tổ chức quốc tế (IMF, WTO,.) đã tổ chức nhiều hội thảo về dịch vụ nhằm đi đến sự thống nhất về khái niệm và phạm vi của dịch vụ, trên cơ sở đó đánh giá xu hướng phát triển của dịch vụ. Tuy nhiên, có một thực tế là cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu. Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO cũng không đưa ra định nghĩa dịch vụ mà chỉ phân loại dịch vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành khác nhau. Thực tế này đã khẳng định sự khó khăn này khi đưa ra một định nghĩa về dịch vụ một cách thống nhất.
Do đó, các nhà nghiên cứu thường tập trung tìm những đặc trưng của sản phẩm hàng hóa và sản phẩm dịch vụ để làm cơ sở phân biệt dịch vụ với hàng hóa. Về cơ bản, đó là một cách tiếp 1 cận đúng đắn và hợp lý. Để hiểu thêm cách tiếp cận này, đề tài sẽ phân tích rõ hơn một số đặc tính của dịch vụ được nhiều người thừa nhận. Khái niệm thứ nhất, theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là một ngành kinh tế thứ ba.
Theo cách hiểu này thì các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp được coi là ngành dịch vụ. Như vậy những ngành kinh tế như hàng không, thông tin. đều thuộc lĩnh vực dịch vụ.[1] Khái niệm thứ hai, dịch vụ cũng được hiểu theo nghĩa hẹp là sản phẩm của lao động xã hội, được trao đổi trên thị trường. Nền sản xuất xã hội được chia thành hai lĩnh vực: sản xuất hàng hóa và sản xuất dịch vụ.
Quá trình tạo ra dịch vụ chính là quá trình tương tác giữa ba yếu tố cơ bản: khách hàng (người sử dung dịch vụ), cơ sở vật chất và nhân viên phục vụ. Ba yếu tố đó quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống, trong đó dịch vụ là kết quả của sự tương tác trực tiếp giữa khách hàng, nhân viên phục vụ và cơ sở vật chất.[24] Khái niệm thứ ba, theo Mác: Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển. Như vậy, bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ.[25] Tóm lại, cho dù có nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ, nhưng về cơ bản các quan niệm đó giống nhau ở hai điểm: Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người. Thứ hai, khác với hàng hoá là vật hữu hình, dịch vụ mang tính vô hình, là phi vật thể.
Từ đó, có thể hiểu: “Dịch vụ là những hoạt động tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể, nhằm thoả mãn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống con người”. Khái niệm về dịch vụ viễn thông 1 Dịch vụ viễn thông được định nghĩa là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Dịch vụ viễn thông cũng được phân chia thành dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông còn bổ sung thêm dịch vụ kết nối internet, dịch vụ truy nhập internet và dịch vụ ứng dụng internet.
Trong đó: + “Dịch vụ cơ bản” là dịch vụ truyền đưa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin; + “Dịch vụ giá trị gia tăng” là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet; Trong các định nghĩa về viễn thông vừa nêu, tất cả đều có sự thống nhất về khái niệm Viễn thông là sự truyền tải nhiều loại thông tin qua một khoảng cách xa thông qua nhiều hình thức truyền dẫn khác nhau. Bên cạnh đó, cách phân chia dịch vụ viễn thông thành dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng cũng thống nhất giữa quan điểm của WTO và Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông của Việt Nam. Tuy nhiên, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông có đề cập thêm các dịch vụ internet, trong khi định nghĩa của Pete Moulton và định nghĩa của WTO không đề cập đến dịch vụ Internet. Khái niệm về dịch vụ công nghệ thông tin Theo từ điển Wikipedia, Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.[35] Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ số 49/CP ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ 1 thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".
Các lĩnh vực chính của phần mềm bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Trong phạm vi luận văn này, chỉ đề cập đến dịch vụ phần mềm, một bộ phận quan trọng của hoạt động cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin. Phần mềm (tiếng Anh: Computer Software) hay gọi tắt là Phần mềm (Software) là một tập hợp những câu lệnh hoặc chỉ thị (Instruction) được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định, và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm tự động thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. Phần mềm thực hiện các chức năng của nó bằng cách gửi các chỉ thị trực tiếp đến phần cứng (hay phần cứng máy tính, Computer Hardware) hoặc bằng cách cung cấp dữ liệu để phục vụ các chương trình hay phần mềm khác.
Phần mềm là một khái niệm trừu tượng, nó khác với phần cứng ở chỗ là “phần mềm không thể sờ hay đụng vào”, và nó cần phải có phần cứng mới có thể thực thi được. Hiểu theo nghĩa hẹp, phần mềm là dịch vụ chương trình để tăng khả năng xử lý của phần cứng của máy tính chẳng hạn như Hệ điều hành. Còn hiểu theo nghĩa rộng, phần mềm là tất cả các kỹ thuật ứng dụng để thực hiện những dịch vụ chức năng cho mục đích nào đó của phần cứng. Với cách hiểu này, phần mềm là một khái niệm không chỉ bao gồm các phần mềm cơ bản, các phần mềm ứng dụng mà còn chỉ cả khả năng, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng của kỹ sư - người chế ra phần mềm.
Nói tóm lại, trong một hệ thống máy tính, nếu trừ bỏ đi các thiết bị và các loại phụ kiện thì phần còn lại chính là phần mềm. Các khái niệm về xuất khẩu dịch vụ viễn thông và xuất khẩu phần mềm 1. Khái niệm xuất khẩu dịch vụ Cùng với quá trình toàn cầu hoá về kinh tế, sự trao đổi dịch vụ ngày càng không chỉ bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia, tức là người cung ứng dịch vụ và người tiêu thụ dịch vụ thuộc cùng một nước. Ví dụ, nếu người bác sỹ là người Trung Quốc cung ứng dịch vụ chữa bệnh cho một bệnh nhân Việt Nam vì mục đích thương mại thì sự trao đổi giữa hai người trong trường hợp này không chỉ đơn thuần diễn ra giữa các cá nhân hay pháp nhân của cùng một quốc gia mà đã có sự tham gia của chủ thể của hai quốc gia khác nhau.
Như vậy, thương mại dịch vụ đã chuyển sang một sắc thái mới: thương mại dịch vụ quốc tế. Trên cơ sở định nghĩa về thương mại dịch vụ như đã nêu trên, ta có thể định nghĩa về thương mại dịch vụ quốc tế. Do bản chất của GATS là để điều chỉnh các mối quan hệ thương mại giữa các nước về dịch vụ, và xét theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ được dùng để định nghĩa về nó, nên thương mại dịch vụ được nhắc đến trong Hiệp định này chính là thương mại dịch vụ quốc tế chứ không phải hoạt động thương mại dịch vụ mà nhà cung cấp và người tiêu dùng bó hẹp trong phạm vi một quốc gia. Do đó, ta có thể định nghĩa Thương mại dịch vụ quốc tế là sự trao đổi về dịch vụ giữa pháp nhân hoặc thể nhân trong nước với pháp nhân hoặc thể nhân nước ngoài vì mục đích thương mại.[19] Như vậy, có thể hiểu xuất, nhập khẩu dịch vụ theo 4 phương thức sau: Phương thức 1: Cung ứng dịch vụ qua biên giới.