Công Nhận Sự Thỏa Thuận Của Đương Sự Trong Tố Tụng Dân Sự Tại Quảng Ninh

Chuyên khảo phân tích Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại các tòa án, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2021

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.7. Bố cục của luận văn

2. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.1.1. Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.1.2. Đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.1.3. Ý nghĩa của công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.2. Cơ sở khoa học của việc pháp luật quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.3. Cơ sở thực tiễn

2.4. Các điều kiện đảm bảo hiệu quả của việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự

2.5. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về công nhận sự thỏa thuận của đương sự

2.5.1. Sự hiểu biết pháp luật tố tụng dân sự về công nhận sự thỏa thuận của đương sự

2.5.2. Trình độ, chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ Tòa án, đặc biệt là Thẩm phán

2.5.3. Sự hỗ trợ, giúp đỡ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

2.5.4. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.5.5. Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.5.6. Phạm vi các vụ án mà Tòa án công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.5.6.1. Trong trường hợp các đương sự tự thỏa thuận trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án
2.5.6.2. Trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải

2.5.7. Thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.5.7.1. Thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự do đương sự tự thỏa thuận trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án
2.5.7.2. Thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải

2.5.8. Hình thức, thẩm quyền và hiệu lực của việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự

2.5.8.1. Thẩm quyền, hình thức của việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự
2.5.8.2. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự

3. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TTDS VỀ VIỆC CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ TẠI CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH QUẢNG NINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Quảng Ninh

3.2. Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Quảng Ninh

3.3. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Quảng Ninh

3.4. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc

3.5. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại các Toà án nhân dân tại tỉnh Quảng Ninh

3.5.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về công nhận sự thỏa thuận của đương sự

3.5.2. Kiến nghị về thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại các Toà án nhân dân tại tỉnh Quảng Ninh

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Công Nhận Sự Thỏa Thuận Trong Tố Tụng Dân Sự

Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự là một vấn đề quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Việc này không chỉ giúp giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, sự thỏa thuận này có thể được công nhận bởi Tòa án, tạo điều kiện cho các bên tự định đoạt quyền lợi của mình.

1.1. Khái Niệm Công Nhận Sự Thỏa Thuận Trong Tố Tụng Dân Sự

Công nhận sự thỏa thuận của đương sự được hiểu là việc Tòa án xác nhận sự đồng ý của các bên trong một vụ án dân sự. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự và tạo điều kiện cho việc thi hành án.

1.2. Ý Nghĩa Của Công Nhận Sự Thỏa Thuận

Công nhận sự thỏa thuận không chỉ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho Tòa án mà còn nâng cao tính tự nguyện của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ. Điều này góp phần xây dựng niềm tin vào hệ thống pháp luật và Tòa án.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Công Nhận Sự Thỏa Thuận

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật về công nhận sự thỏa thuận, nhưng thực tiễn vẫn gặp nhiều thách thức. Các Tòa án tại Quảng Ninh vẫn phải đối mặt với những khó khăn trong việc áp dụng các quy định này, dẫn đến việc công nhận sự thỏa thuận chưa đạt hiệu quả cao.

2.1. Những Hạn Chế Trong Thực Tiễn Công Nhận

Một số Tòa án gặp khó khăn trong việc xác định tính hợp pháp của sự thỏa thuận. Điều này có thể dẫn đến việc từ chối công nhận sự thỏa thuận, gây khó khăn cho các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

2.2. Nguyên Nhân Của Những Hạn Chế

Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thiếu hiểu biết về pháp luật của các đương sự và sự chưa đồng bộ trong quy trình làm việc của các Tòa án. Điều này cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả công nhận sự thỏa thuận.

III. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Nhận Sự Thỏa Thuận

Để nâng cao hiệu quả công nhận sự thỏa thuận, cần có những phương pháp cụ thể. Việc đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ Tòa án và tăng cường tuyên truyền về quyền lợi của đương sự là rất cần thiết.

3.1. Đào Tạo Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ Tòa Án

Cán bộ Tòa án cần được đào tạo về các quy định pháp luật mới nhất liên quan đến công nhận sự thỏa thuận. Điều này giúp họ có đủ kiến thức để áp dụng đúng đắn trong thực tiễn.

3.2. Tăng Cường Tuyên Truyền Về Quyền Lợi Của Đương Sự

Việc tuyên truyền về quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự trong tố tụng dân sự sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về quy trình và từ đó chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Tại Quảng Ninh

Thực tiễn công nhận sự thỏa thuận tại các Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần có những cải cách để nâng cao hiệu quả hơn nữa.

4.1. Kết Quả Đạt Được Trong Thực Tiễn

Nhiều vụ án đã được giải quyết nhanh chóng nhờ vào sự công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn giảm tải cho Tòa án.

4.2. Những Vướng Mắc Cần Khắc Phục

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn tồn tại những vướng mắc trong việc áp dụng quy định pháp luật. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những vấn đề này.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Công Nhận Sự Thỏa Thuận

Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự là một vấn đề quan trọng, cần được chú trọng trong thời gian tới. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao nhận thức của các bên liên quan sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công nhận sự thỏa thuận.

5.1. Tương Lai Của Công Nhận Sự Thỏa Thuận

Trong tương lai, việc công nhận sự thỏa thuận sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc giải quyết tranh chấp. Cần có những cải cách để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

5.2. Đề Xuất Một Số Giải Pháp Cải Cách

Cần có những giải pháp cụ thể để cải cách quy trình công nhận sự thỏa thuận, từ đó nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt động của Tòa án.

14/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Để đưa ra khái niệm về công nhận sự thỏa thuận của đương sự thì cần làm rõ các thuật ngữ sau: TTDS, đương sự. Thời Pháp thuộc, người ta dùng hai chữ "tố tụng" để dịch chữ "procédure", “procedure” trong tiếng Anh hay “procédure” tiếng Pháp đều bắt nguồn từ chữ La tinh “processus” nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục.

Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, "tố tụng" là việc thưa kiện1. Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái"2. Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản thì "Tố tụng" là việc thưa kiện ở Tòa án. Trong khoa học pháp lý, theo Từ điển Luật học Việt Nam, TTDS là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án.

Trong từ điển Luật học của Anh thì tố tụng (procedure) là những bước tiến hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiện được giải quyết. Trong từ điển Luật học của Pháp thì tố tụng là toàn bộ những thể thức phải theo để đệ trình một yêu cầu trước thẩm phán. Như vậy đa số các nước đều thừa nhận TTDS là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để Tòa án giải 1 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, tr. 2 Lê Gia (1999), Tiếng nói nôm na, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, tr.

8 quyết một vụ kiện dân sự3. Ngoài ra, theo quy định của BLTTDS thì vụ việc dân sự mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục TTDS gồm VADS và việc dân sự. Trong đó, VADS là vụ có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động giữa các đương sự. Việc dân sự là không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các đương sự mà chỉ yêu Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác hoặc yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động.

Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu về việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong quá trình Tòa án giải quyết các VADS. Còn việc công nhận sự thỏa thuận trong giải quyết các việc dân sự tại Tòa án nhân dân như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, yêu cầu công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án…; công nhận hoà giải thành tại Toà án theo quy định của Luật hoà giải đối thoại năm 2020; công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong giai đoạn thi hành án sẽ được nghiên cứu trong công trình khác. Pháp luật TTDS quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án với các chủ thể tham gia tố tụng ở mỗi giai đoạn tố tụng. Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp với chức năng “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân4”.

Toà án có trách nhiệm chủ động trong quá trình giải quyết vụ việc, đồng thời bảo đảm cho các đương sự có đầy đủ quyền tố tụng để bảo vệ 3 Nguyễn Công Bình (chủ biên) (2011), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. 4 Điều 2 Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2014. 9 quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có quyền quyết định và tự định đoạt - một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS.

Để đảm bảo nguyên tắc này, Toà án nhân dân phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong TTDS không thể thiếu một chủ thể vô cùng quan trọng, đó là các bên đương sự. Bởi nếu không có các bên đương sự thì không thể nào có việc thỏa thuận và công nhận sự thỏa thuận trong TTDS. Vậy khái niệm đương sự được hiểu như thế nào? Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt thì đương sự là “là người là đối tượng trực tiếp của một việc đang được giải quyết”5.

Còn trong cuốn Từ điển Hán Việt, đương sự được định nghĩa là người “có liên quan trực tiếp đến một việc”6. Như vậy, dưới góc độ chung nhất, đương sự là người có liên quan trực tiếp trong một vụ việc nào đó xảy ra đang được đưa ra xem xét, giải quyết. Dưới góc độ pháp lý, theo cuốn Từ điển Luật học năm 2006 thì đương sự được hiểu là “cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động.

Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, Viện kiểm sát, người làm chứng, người phiên dịch”7. Như vậy, đương sự trong một vụ việc là những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc đang được xem xét, giải quyết. Tùy thuộc vào tính chất của từng loại vụ việc 5 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2008), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr. 6 Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, tr.

7 Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa – Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr. 10 được Tòa án giải quyết mà có đương sự trong vụ việc dân sự, đương sự trong vụ án hành chính và đương sự trong vụ án hình sự. Trong đó, đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự8. Các đương sự trong vụ việc dân sự có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự; người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.

Trong TTDS, Tòa án luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự. Hiện nay trên thế giới, trước khi khởi kiện, các đương sự tự thỏa thuận với nhau thì các bên có thể tự thực hiện, không cần yêu cầu Toà án công nhận sự tự thỏa thuận này (chẳng hạn như ở Mĩ) hoặc các bên có thể yêu cầu Toà án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (như tại Điều 1099 BLTTDS Cộng hoà Pháp). Sau khi khởi kiện, ở Mĩ, thì Toà án chuyển vụ việc dân sự cho các hoà giải viên ở bên ngoài Toà án (không phải là cán bộ của Toà án) tiến hành. Nếu các bên hoà giải thành thì việc thỏa thuận của các bên sẽ được Toà án công nhận trừ trường hợp việc hoà giải thành xâm phạm đến trật tự, lợi ích công cộng hay lợi ích của người khác và Tòa án sẽ xem xét lại thỏa thuận đó từ đầu9.

Còn ở Cộng hoà Pháp thì sau khi khởi kiện việc thỏa thuận của các bên có thể do các bên tự thỏa thuận, thẩm phán tiến hành hoà giải hoặc thẩm phán Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp ủy quyền hòa giải các bên cho một người thứ ba10. Trong các trường hợp này thì dù việc thỏa thuận đạt được bằng hình thức nào thì thẩm phán đều ra quyết định công nhân sự thỏa thuận của các 8 Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, tr. 9 TANDTC (2000), Về pháp luật TTDS, Kỷ yếu Dự án VIE/95/017 Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội, tr.

10 Nhà Pháp luật Việt - Pháp (1998), Hội thảo pháp luật TTDS, Hà Nội ngày 7,8/9/1998, tr. 11 đương sự để đảm bảo giá trị pháp lý của thỏa thuận giữa các bên đương sự. Ở Việt Nam, trước khi khởi kiện, các bên có thể tự thỏa thuận và yêu cầu Toà án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như yêu cầu Toà án công nhận thuận tình ly hôn, yêu cầu Toà án công nhận sự thỏa thuận về việc giải quyết nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu công nhận về thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Ngoài ra, trước khi khởi kiện, nếu các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành hoà giải giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật thì các bên đương sự có thể yêu cầu Toà án công nhận kết quả hoà giải thành ngoài toà án.

Sau khi khởi kiện, các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết VADS thông qua việc các đương sự tự thỏa thuận với nhau; Toà án chuyển vụ án dân sự cho các hoà giải viên tiến hành (hoà giải gắn với Toà án) hoặc Tòa án tiến hành hòa giải để giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết VADS. Khi các đương sự đạt được sự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án công nhận sự tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Toà án công nhận việc hoà giải thành do các hoà giải viên tiến hành hoặc các đương sự hòa giải thành tại Toà án thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ