CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Để đưa ra khái niệm về công nhận sự thỏa thuận của đương sự thì cần làm rõ các thuật ngữ sau: TTDS, đương sự. Thời Pháp thuộc, người ta dùng hai chữ "tố tụng" để dịch chữ "procédure", “procedure” trong tiếng Anh hay “procédure” tiếng Pháp đều bắt nguồn từ chữ La tinh “processus” nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục.
Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, "tố tụng" là việc thưa kiện1. Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái"2. Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản thì "Tố tụng" là việc thưa kiện ở Tòa án. Trong khoa học pháp lý, theo Từ điển Luật học Việt Nam, TTDS là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án.
Trong từ điển Luật học của Anh thì tố tụng (procedure) là những bước tiến hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiện được giải quyết. Trong từ điển Luật học của Pháp thì tố tụng là toàn bộ những thể thức phải theo để đệ trình một yêu cầu trước thẩm phán. Như vậy đa số các nước đều thừa nhận TTDS là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để Tòa án giải 1 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, tr. 2 Lê Gia (1999), Tiếng nói nôm na, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, tr.
8 quyết một vụ kiện dân sự3. Ngoài ra, theo quy định của BLTTDS thì vụ việc dân sự mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục TTDS gồm VADS và việc dân sự. Trong đó, VADS là vụ có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động giữa các đương sự. Việc dân sự là không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các đương sự mà chỉ yêu Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác hoặc yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động.
Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu về việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong quá trình Tòa án giải quyết các VADS. Còn việc công nhận sự thỏa thuận trong giải quyết các việc dân sự tại Tòa án nhân dân như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, yêu cầu công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án…; công nhận hoà giải thành tại Toà án theo quy định của Luật hoà giải đối thoại năm 2020; công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong giai đoạn thi hành án sẽ được nghiên cứu trong công trình khác. Pháp luật TTDS quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án với các chủ thể tham gia tố tụng ở mỗi giai đoạn tố tụng. Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp với chức năng “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân4”.
Toà án có trách nhiệm chủ động trong quá trình giải quyết vụ việc, đồng thời bảo đảm cho các đương sự có đầy đủ quyền tố tụng để bảo vệ 3 Nguyễn Công Bình (chủ biên) (2011), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. 4 Điều 2 Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2014. 9 quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có quyền quyết định và tự định đoạt - một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS.
Để đảm bảo nguyên tắc này, Toà án nhân dân phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong TTDS không thể thiếu một chủ thể vô cùng quan trọng, đó là các bên đương sự. Bởi nếu không có các bên đương sự thì không thể nào có việc thỏa thuận và công nhận sự thỏa thuận trong TTDS. Vậy khái niệm đương sự được hiểu như thế nào? Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt thì đương sự là “là người là đối tượng trực tiếp của một việc đang được giải quyết”5.
Còn trong cuốn Từ điển Hán Việt, đương sự được định nghĩa là người “có liên quan trực tiếp đến một việc”6. Như vậy, dưới góc độ chung nhất, đương sự là người có liên quan trực tiếp trong một vụ việc nào đó xảy ra đang được đưa ra xem xét, giải quyết. Dưới góc độ pháp lý, theo cuốn Từ điển Luật học năm 2006 thì đương sự được hiểu là “cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động.
Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, Viện kiểm sát, người làm chứng, người phiên dịch”7. Như vậy, đương sự trong một vụ việc là những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc đang được xem xét, giải quyết. Tùy thuộc vào tính chất của từng loại vụ việc 5 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2008), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr. 6 Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, tr.
7 Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa – Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr. 10 được Tòa án giải quyết mà có đương sự trong vụ việc dân sự, đương sự trong vụ án hành chính và đương sự trong vụ án hình sự. Trong đó, đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự8. Các đương sự trong vụ việc dân sự có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự; người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.
Trong TTDS, Tòa án luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự. Hiện nay trên thế giới, trước khi khởi kiện, các đương sự tự thỏa thuận với nhau thì các bên có thể tự thực hiện, không cần yêu cầu Toà án công nhận sự tự thỏa thuận này (chẳng hạn như ở Mĩ) hoặc các bên có thể yêu cầu Toà án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (như tại Điều 1099 BLTTDS Cộng hoà Pháp). Sau khi khởi kiện, ở Mĩ, thì Toà án chuyển vụ việc dân sự cho các hoà giải viên ở bên ngoài Toà án (không phải là cán bộ của Toà án) tiến hành. Nếu các bên hoà giải thành thì việc thỏa thuận của các bên sẽ được Toà án công nhận trừ trường hợp việc hoà giải thành xâm phạm đến trật tự, lợi ích công cộng hay lợi ích của người khác và Tòa án sẽ xem xét lại thỏa thuận đó từ đầu9.
Còn ở Cộng hoà Pháp thì sau khi khởi kiện việc thỏa thuận của các bên có thể do các bên tự thỏa thuận, thẩm phán tiến hành hoà giải hoặc thẩm phán Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp ủy quyền hòa giải các bên cho một người thứ ba10. Trong các trường hợp này thì dù việc thỏa thuận đạt được bằng hình thức nào thì thẩm phán đều ra quyết định công nhân sự thỏa thuận của các 8 Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, tr. 9 TANDTC (2000), Về pháp luật TTDS, Kỷ yếu Dự án VIE/95/017 Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội, tr.
10 Nhà Pháp luật Việt - Pháp (1998), Hội thảo pháp luật TTDS, Hà Nội ngày 7,8/9/1998, tr. 11 đương sự để đảm bảo giá trị pháp lý của thỏa thuận giữa các bên đương sự. Ở Việt Nam, trước khi khởi kiện, các bên có thể tự thỏa thuận và yêu cầu Toà án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như yêu cầu Toà án công nhận thuận tình ly hôn, yêu cầu Toà án công nhận sự thỏa thuận về việc giải quyết nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu công nhận về thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Ngoài ra, trước khi khởi kiện, nếu các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành hoà giải giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật thì các bên đương sự có thể yêu cầu Toà án công nhận kết quả hoà giải thành ngoài toà án.
Sau khi khởi kiện, các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết VADS thông qua việc các đương sự tự thỏa thuận với nhau; Toà án chuyển vụ án dân sự cho các hoà giải viên tiến hành (hoà giải gắn với Toà án) hoặc Tòa án tiến hành hòa giải để giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết VADS. Khi các đương sự đạt được sự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án công nhận sự tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Toà án công nhận việc hoà giải thành do các hoà giải viên tiến hành hoặc các đương sự hòa giải thành tại Toà án thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.