phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 02 chương, 04 tiết. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ ĐẶC TRƢNG CƠ BẢN CỦA CÔNG GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN NHÂN DÂN TẠI ĐỊA BÀN GIÁO PHẬN VINH 1. Một số đặc trƣng Công giáo tại giáo phận Vinh 1. Lược sử quá trình hình thành, phát triển của Công giáo tại giáo phận Vinh Từ cuối thế kỷ XV, nhất là từ thế kỷ XVI, vùng Viễn Đông khi đó là nơi lui tới của nhiều đoàn thám hiểm, các thương nhân và giáo sĩ đến từ phương Tây để buôn bán, truyền đạo, rồi qua đó chiếm đất đai vùng này làm thuộc địa.
Ấn Độ rơi vào vùng kiểm soát của Anh, Philippin trở thành thuộc địa Tây Ban Nha, Indonesia bị Hà Lan chiếm…Việt Nam tuy nằm trong khu vực Viễn Đông nhưng chưa được các giáo sĩ quan tâm. Thỉnh thoảng có giáo sĩ Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha dừng chân giảng đạo, thờ cúng hoặc là ngẫu nhiên hoặc chỉ có tính chất thăm thú, do vậy mà chưa có kết quả đáng kể. Trong “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” được soạn thảo dưới triều vua Tự Đức từ năm 1856, quyển 33 phần chính biên khi nói đến chỉ dụ cấm Công giáo, đó viết rằng, vào năm 1533, năm Nguyên Hoà I, đời Lê Trang Tông, có một giáo sĩ tên là I-nê-khu, theo đường biển đến truyền đạo tại làng Ninh Cường, làng Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định" (giáo phận Chu hiện nay). Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu Công giáo Việt Nam thường lấy năm 1533 như khởi đầu cho Công giáo tại Việt Nam.
Thời kỳ từ 1533 đến 1614 chủ yếu là các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộc Bồ Đào Nha và dòng Đa Minh thuộc Tây Ban Nha đi theo những thuyền buôn vào nước ta, nhưng do không quen thông thổ, chưa thạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo không mấy kết quả. Từ năm 1613 đến 1645 các giáo sĩ dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma Cao (Trung Quốc) vào Việt Nam hoạt động ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Nhiều giáo sĩ dòng Tên 8 thông thạo tiếng Việt Nam lại hoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp khó khăn, phức tạp, có khi đổ máu nhưng thu hút được khá nhiều người theo đạo. Trong tài liệu của Giáo hội thì trong hai chục năm truyền giáo miền Nam Trung Bộ đã lôi kéo được 50.000 người vào đạo và đào tạo được 40 tu sĩ người Việt để giúp việc truyền giáo.
Năm 1593 ở Nghệ An đã có đến 12 làng Công giáo toàn tòng. Ngày 9 tháng 9 năm 1659, Giáo hoàng Alexanđê VII qua Sắc chỉ Super Cathedram quyết định thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận tách ra từ giáo phận Macao, và chọn hai người thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris làm Đại diện Tông Tòa. Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam, gồm cả phần đất Chiêm Thành, Chân Lạp do Giám mục Pierre Lambert de la Motte cai quản. Giáo phận Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, bao gồm cả Lào và 5 tỉnh miền Nam Trung Quốc do Giám mục Francois Pallu cai quản.
Năm 1679, Giáo hoàng Innôcentê XI lại chia giáo phận Đàng Ngoài thành hai giáo phận: Tây Đàng Ngoài (từ sông Hồng tới ranh giới Ai Lao và Đông Đàng Ngoài (từ tả ngạn sông Hồng chạy ra biển). Khi đang nằm trong giáo phận Tây Đàng Ngoài, vì Nghệ - Tĩnh - Bình có lãnh thổ dài, rộng nên cai quản giáo phận Tây Đàng Ngoài là giám mục chính ở Hoàng Nguyên (gần Hà Nội), còn một giám mục phó hoặc tổng đại diện sẽ được cử cai quản vùng Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình này. Mặt khác, vùng Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình cú số giáo dân đông, chiếm hơn 1/3 tổng số giáo hữu của địa phận Tây Đàng Ngoài, lại có giọng nói tương đối khác biệt, con người rất can trường, trải qua nhiều chặng đường khốn khó, thăng trầm nhưng sự phát triển của Công giáo khu vực này rất mạnh mẽ. Vì vậy, năm 1844, giám mục Retord Liêu đã kiến nghị với Bộ truyền giáo phân chia giáo phận Tây Đàng Ngoài để thành giáo phận Nam Bắc Kỳ, tức Giáo phận Vinh ngày nay, “nếu được Ngài ban phép, trong tình 9 trạng khẩn trương hiện nay, tôi xin đề nghị lên Thánh bộ một việc khác là theo ý tôi, điều hay nhất nên chia giáo phận này ra làm hai.
Tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và vùng thường gọi là Bố Chính hiện có ít nhất 60.000 giáo dân, xứng đáng để lập thành một giáo phận có thể gọi tên là giáo phận Nam Bắc Kỳ” [6]. Trước sự phát triển không ngừng về tổ chức và lực lượng Công giáo ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ngày 27/3/1846, Giáo hoàng Grêgor XVI đó ban sắc thành lập giáo phận Nam Đàng Ngoài gồm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Bắc Bố Chính với diện tích là 24500 km2. Đồng thời ký sắc phong Giám mục phó Tây Đàng Ngoài là giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) làm giám mục địa phận mới. Lúc đầu địa phận mới có tên là Giáo phận Nam Đàng Ngoài, thời Pháp thường gọi là địa phận Nam bên Bắc Kỳ, từ năm 1924 gọi theo địa danh là địa phận Vĩnh, sau năm 1945 gọi là địa phận Vinh và được giữ cho đến ngày nay.
Ngày 15 tháng 2 năm 1847, giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) vào nhận Giáo phận mới, giám mục phó là Masson (Nghiêm), cho đến khi này toàn giáo phận có 1 giám mục đại diện tông toà, 1 giám mục phó, 4 thừa sai là linh mục Masson, Simonin, Gally, Taillander, 35 linh mục bản xứ, 75 thầy giảng, 69 chủng sinh, 270 nữ tu, 19 giáo xứ với 345 giáo họ và 66350 giáo dân. Như vậy, sự ra đời của Giáo phận Vinh là một điều tất yếu trước sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng về tổ chức và lực lượng của Công giáo ở Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình. Hiện nay, giáo phận Vinh nằm trong giáo tỉnh Hà Nội, có khoảng 23 giáo hạt, 195 giáo xứ, với hơn 220 giáo sĩ, thuộc nhóm các giáo phận có số lượng giáo dân đông nhất Việt Nam với trên 500.000 giáo dân, lãnh đạo cộng đoàn Công giáo giáo phận Vinh hiện nay là giám mục chính tòa Phaolo Nguyễn Thái Hợp, giám mục phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Viên; Nhà thờ chính 10 tòa Xã Đoài và Tòa giám mục Xã Đoài - Giáo phận Vinh được đặt tại xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An [10]. Những đặc điểm cơ bản Công giáo trên địa bàn giáo phận Vinh Giáo phận Vinh có tổ chức chặt chẽ, đầy đủ từ cấp giáo phận tới giáo xứ; giáo sĩ Công giáo giáo phận Vinh được đào tạo cơ bản Do hệ thống giáo lý, giáo luật Công giáo quy định chặt chẽ các phẩm trật giáo hội, ở mỗi giáo phận có đấng bản quyền giáo phận là giám mục chính tòa, giúp việc cho giám mục chính tòa là giám mục phó có quyền kế vị, giám mục phụ tá và các linh mục.
Hiện nay, tại giáo phận Vinh có 03 giám mục, đó là Phaolo Maria Cao Đình Thuyên - nguyên giám mục chính tòa, Phaolo Nguyễn Thái Hợp - giám mục chính tòa giáo phận Vinh (thụ phong giám mục chính tòa năm 2010) và giám mục phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Viên (thụ phong năm 2013), cùng trên 200 linh mục. Theo quy định, ở mỗi giáo xứ sẽ có linh mục chính xứ để coi sóc toàn bộ các công việc đạo của xứ đó. Tuy nhiên, do thiếu hụt nguồn linh mục và một số yếu tố khác nên một linh mục có thể là quản xứ của giáo xứ khác. Hầu hết, các giáo sĩ Công giáo tại địa bàn giáo phận Vinh tuổi đời còn trẻ và hầu hết được đào tạo tại Đại chủng viện Vinh - Thanh.
Nguồn gốc xuất thân của các giáo sĩ tại giáo phận Vinh thường là khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên đăng ký đi theo “ơn gọi” thành các chủng sinh, những linh mục tương lai của giáo hội, những vị chủ chăn thay mặt Thiên chúa chăn dắt đàn chiên, ngoài việc nắm vững tri thức Công giáo, còn phải hiểu trách nhiệm của công dân. Số thanh niên tín đồ Công giáo giáo phận Vinh đăng kí thi vào đại chủng viện hiện nay ngày một tăng. Từ năm 1990 trở về trước, những chủng sinh được dự thi chỉ cần tốt nghiệp cấp III (phổ thông trung học), có thể đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, cá biệt có người là cán bộ, công nhân viên nhà nước. Nhưng những năm gần đây, các đại chủng viện đã dần chuyển 11 sang việc tuyển chủng sinh là người đã tốt nghiệp đại học (nhất là các ngành khoa học xã hội và nhân văn).
Vì vậy, trình độ của các giáo sĩ Công giáo giáo phận Vinh ngày càng được nâng cao, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của giáo hội Công giáo hiện nay. Chính những điều này ảnh hưởng rất lớn tới đời sống tinh thần của giáo dân, bởi lẽ, khi giáo sĩ được đào tạo bài bản, có trình độ trên các lĩnh vực triết học, văn hóa - xã hội, đặc biệt là về giáo lý, giáo luật Công giáo, kỹ năng về rao giảng giáo lý Công giáo, khả năng thuyết phục giáo dân; giáo dân sẽ càng tin, càng nghe theo lời giáo sĩ, tuân thủ nghiêm ngặt theo giáo lý, giáo luật trong tất cả các hành động và suy nghĩ của mình. Ngoài ra, do đặc thù công cuộc truyền giáo ở Việt Nam mà trong hệ thống hành chính của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói chung và giáo phận Vinh nói riêng có một tổ chức để trợ giúp các giáo sĩ quản lý giáo hội cơ sở, thực hiện một số công việc mục vụ, cũng có khi được giao đảm nhận một số công việc tông đồ, chẳng hạn như được các giáo sĩ rửa tội cho trẻ nhỏ, đặc biệt là người hấp hối sắp qua đời lãnh “của ăn đàng”, hay là xướng kinh trong nhà thời, hoặc lo chuẩn bị cho Thánh lễ, giữ trật tự trong nhà thờ, đưa rước linh mục mới khi về giáo xứ, giáo họ “làm phúc”, tức là thực hành thánh lễ, ngồi tòa cho giáo dân xưng tội., ở giáo phận Vinh được gọi là Ban hành giáo. Ban hành giáo được bầu ra từ các giáo dân ngoan đạo, thường những người được bầu là những người có trình độ, có uy tín, có kinh tế khá giả trong giáo xứ.
Những người trong Ban hành giáo có nhiệm vụ giúp đỡ linh mục trong việc quản lý cơ sở vật chất, tài chính, các công việc chuẩn bị cho các ngày lễ trọng, các buổi thuyết giảng và các công việc khác khi linh mục yêu cầu. Ban hành giáo là cầu nối trực tiếp và rất quan trọng giữa giáo sĩ và giáo dân và ngược lại.