Chương 1 HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Sơn Dương là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Tuyên Quang, cách thành phố Tuyên Quang khoảng 30km. Trải qua các thời kỳ lịch sử, huyện Sơn Dương có nhiều thay đổi về địa giới, hành chính.
Khi nhà nước Văn Lang ra đời, Sơn Dương thuộc bộ Văn Lang. Dưới chế độ Bắc thuộc, Sơn Dương trực thuộc các phủ, quận do thống trị phương Bắc lập ra. Huyện Sơn Dương ngày nay được sáp nhập từ hai huyện Để Giang và Đăng Đạo. Cả hai huyện từ thời Lý - Trần - Lê Sơ đến trước năm 1833 thuộc phủ Đoan Hùng, trấn Sơn Tây.
Thời Trần, huyện Sơn Dương gọi là huyện Đáy Giang thuộc lộ Quốc Oai. Thời thuộc Minh gọi là huyện Để Giang (để là đáy, giang là sông). Thời Lê, năm Quang Thuận thứ 10 (1469) sáp nhập vào phủ Đoan Hùng, trấn Sơn Tây. Đến thời Lê Trung Hưng đổi tên thành huyện Sơn Dương, bao gồm có 9 tổng: Ất Sơn, Yên Lịch, Lương Viên, Đồng Chương, Linh Xuyên, Mẫn Hóa, Hội Kế, Hữu Vu, Gia Mông (Từ xã Tuân Lộ ngày nay đến hết các xã hạ huyện Sơn Dương).
Năm 1831, tỉnh Tuyên Quang được thành lập. Ngày 18/4/1888, Thống sứ Bắc Kỳ tách huyện Sơn Dương ra khỏi tỉnh Sơn Tây nhập vào tỉnh Tuyên Quang. Năm 1891, tỉnh Tuyên Quang bị xóa bỏ, các đơn vị hành chính của tỉnh Tuyên Quang được chia vào đạo quan binh II và đạo quan binh III. Năm 1900, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, Sơn Dương dưới quyền quản lý nhà nước trực tiếp của tỉnh Tuyên Quang.
Ngày 10/3/1945, cuộc khởi nghĩa ở đình Thanh La (xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương ngày nay), tiến đánh giải phóng đồn Đăng Châu, thành lập Châu Tự 11 c Do, bao gồm các xã vùng thượng huyện Sơn Dương, các xã vùng hạ huyện Sơn Dương gọi là châu Kháng Địch. Năm 1946, châu Tự Do và châu Kháng Địch sáp nhập lại thành huyện Sơn Dương. Năm 1976, Hà Giang và Tuyên Quang sáp nhập thành tỉnh Hà Tuyên, Sơn Dương thuộc tỉnh Hà Tuyên. Năm 1991, tỉnh Hà Giang tách khỏi Hà Tuyên, Sơn Dương trở thành huyện trực thuộc tỉnh Tuyên Quang.
Từ đó đến nay Sơn Dương là đơn vị hành chính dưới sự quản lý trực tiếp của tỉnh Tuyên Quang. Phía Đông huyện Sơn Dương giáp với tỉnh Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc; phía Bắc giáp huyện Yên Sơn. Điều kiện tự nhiên Địa hình Sơn Dương có đặc thù của vùng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi, rừng núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên. Địa hình chia thành 2 vùng, vùng phía Bắc huyện có địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, xen lẫn núi đá vôi; vùng phía Nam có địa hình đồi núi bát úp, có độ dốc thấp, thoải dần.
Khí hậu của huyện Sơn Dương mang đặc tính của khí hậu miền núi trung du Bắc Bộ đó là nhiệt đới ẩm gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa đông hanh khô, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 0 - 240C 0 0 0 0 (cao nhất từ 33 - 35 C, thấp nhất từ 12 - 13 C). Lượng mưa bình quân hàng năm 1. Độ ẩm không khí không có sự khác biệt rõ rệt theo mùa, trong năm độ ẩm dao động từ khoảng 85 - 87%.
Trên địa bàn huyện có 2 con sông lớn chảy qua là sông Lô và sông Phó Đáy, ngoài ra còn có hệ thống suối, khe, lạch tạo nguồn nước phong phú. Điều kiện tự nhiên của huyện khá phong phú, đa dạng thuận lợi cho việc phát triển các ngành nông - lâm - thuỷ sản với các loại cây trồng, vật nuôi thích hợp với địa hình vùng trung du miền núi. Trước hết là nguồn tài nguyên đất, được chia làm 06 nhóm: Nhóm đất phù sa có diện tích 3.752 ha, chiếm 7,76% diện tích đất tự nhiên gồm đất phù sa được bồi đắp hằng năm, đất phù sa không 12 c được bồi đắp hằng năm và đất phù sa ngòi suối; Nhóm đất bạc màu có diện tích 2.240 ha, chiếm 2,84% diện tích đất tự nhiên phân bố chủ yếu ở các xã ven chân núi Tam Đảo như Hợp Hòa, Thiện Kế, Sơn Nam… Đất bị bạc màu do độ dốc của địa hình lớn và quá trình canh tác lâu dài không hợp lý nên bị xói mòn, rửa trôi mạnh; Nhóm đất dốc tụ có diện tích 3.136 ha, chiếm 3,98% diện tích đất tự nhiên, phân bố trên địa bàn xã trong huyện. Đa số diện tích đất trồng lúa của huyện phân bố trên nhóm đất này; Nhóm đất vàng đỏ có diện tích 18.236 ha, chiếm 23,15% diện tích đất tự nhiên bao gồm đất vàng đỏ trên đá Granit, đất vàng nhạt trên đá cát kết, đất nâu vàng trên phù sa cổ; Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 44.162 ha, chiếm 56,05% diện tích đất tự nhiên bao gồm đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, đất nâu đỏ trên đá vôi, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất; Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi cao có diện tích 2.244 ha, chiếm 2,85% diện tích đất tự nhiên phân bố trên địa hình có độ cao >1000m.
Đất đai ở Sơn Dương thích hợp cho việc trồng các loại cây như chè, mía, cây nguyên liệu giấy, các loại cây ăn quả như nhãn, vải…và chăn nuôi bò thịt [12, tr. Do cấu trúc địa chất theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và địa hình đồi núi đất, núi đá xen kẽ, chia cắt, nên hệ thống sông suối của huyện được phân bố khá đều với nguồn nước phong phú. Trên địa bàn huyện có hai con sông lớn đó là sông Lô và sông Phó Đáy chảy qua. Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc chảy qua tỉnh Hà Giang xuống Tuyên Quang và đi vào địa phận huyện Sơn Dương với 2 3 diện tích lưu vực gần 2000km , lưu lượng nước lớn nhất là 11.700m /s, lưu lượng 3 nước nhỏ nhất là 128m /s.
Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo (chợ 2 Đồn - Bắc Kạn) với diện tích lưu vực khoảng 640 km .Ngoài ra, huyện Sơn Dương còn hệ thống ao, hồ, đập, suối, khe, lạch (hồ Hoa Lũng, hồ Kháng Nhật, đập Khoa Lữ, đập Cây Sấu, suối Lê, Ngòi Thia, Ngòi Khổng, Ngòi Lẹm, Ngòi Xoan…) tạo nguồn nước phong phú, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn huyện 13 c đồng thời chứa đụng tiềm năng phát triển thủy điện vừa và nhỏ. Tuy nhiên, do độ dốc lớn, lòng sông hẹp cũng gây nguy hiểm và lũ lụt vào mùa mưa ở nhiều vùng thấp.295,43 ha đất lâm nghiệp, chiếm 54,9% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó diện tích rừng sản xuất 29.043,80 ha chiếm 36,9%, diện tích rừng đặc dụng 10.769,19 ha chiếm 13,6%, diện tích rừng phòng hộ 3. Độ che phủ của rừng đạt trên 50%.
Diện tích rừng trồng lớn, là nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, giấy và bột giấy [12, tr. Sơn Dương có những địa danh với cảnh quan và hệ động thực vật phong phú, đa dạng để phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Tiêu biểu là khu rừng đặc dụng Tân Trào với các điểm di tích, cụm di tích lịch sử đã được xếp hạng và các loại động thực vật quý hiếm: vạc hoa, lan kim tuyến, thông pà cò, hoàng đàn. Được thiên nhiên ưu đãi nên huyện có nhiều loại khoáng sản với trữ lượng khá lớn bao gồm: thiếc có trữ lượng 21.169 tấn phân bố tại xã Hợp Hòa, Kháng Nhật, Hợp Thành, Phúc Ứng, Thị trấn Sơn Dương; Kaolin có trữ lượng khoảng 1.000 tấn phân bố tại xã Hào Phú, Vân Sơn; Sắt Limonit trữ lượng trên 2.000 tấn phân bố tại xã Quyết Thắng, Thượng Ấm, Phúc Ứng, thị trấn Sơn Dương; Chì kẽm trữ lượng 322.000 tấn phân bố tại xã Thượng Ấm và Tân Trào; Vonfra trữ lượng 13.710 tấn phân bố tại xã Thiện Kế và Ninh Lai; Barit trữ lượng 1.000 tấn phân bố tại các xã Hợp Hòa, Thượng Ấm, Tú Thịnh, Thiện Kế và Tuân Lộ [12, tr.
Trên địa bàn huyện có 130 điểm di tích lịch sử, trong đó có 18 di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia, 30 di tích xếp hạng di tích cấp tỉnh. Trong tổng số di tích trên, có trên 90% là di tích lịch sử, còn lại là các di tích văn hóa như đền, chùa, miếu mạo gắn với những người có công với đất nước. 14 c Tân Trào là khu di tích lịch sử của cách mạng Việt Nam thời kỳ Cách mạng Tháng Tám. Nơi đây đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt.
Tân Trào là Thủ đô Lâm thời của Khu giải phóng, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành Hội nghị toàn quốc ngày 13/8/1945 để quyết định tổng khởi nghĩa. Ðại hội Quốc dân đã họp tại đây ngày 16/8/1945, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh bầu ra một Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Quân Giải phóng Việt Nam làm lễ ra quân. Chiến khu Tân trào ghi đậm dấu ấn của cách mạng Việt Nam. Cụm di tích lịch sử Tân Trào có nhiều điểm di tích như lán Nà Nưa, lán Đồng Minh, lán Điện Đài, đình Tân Trào, đình Hồng Thái… thường xuyên được bảo vệ, tôn tạo theo đúng với nguyên mẫu.
Trên địa bàn huyện còn có khu di tích Khấu Lấu - Vực Hồ thuộc xã TânTrào, huyện Sơn Dương, đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ngồi câu cá trong những phút giây thư giãn sau giờ làm việc; Khu di tích Chính phủ tại xã Bình Yên; Khu di tích Làng Sảo, xã Hợp Thành; Khu di tích lịch sử Nha Công an Trung ương là cơ quan tiền thân của Bộ Công an đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, nơi đây đã trở thành “địa chỉ đỏ” không chỉ đối với các thế hệ cán bộ, chiến sỹ công an mà còn với nhân dân trong cả nước trong hành trình về với Tân Trào - “Trung tâm Thủ đô kháng chiến”. Ngoài các khu di tích lịch sử, huyện Sơn Dương còn có nhiều đền, chùa, miếu, đình như: Hang Thia xã Tân Trào; Đình Thọ Vực thuộc xã Hồng Lạc. Đây là ngôi đền cổ từ thời Vua Hùng Vương thứ 18, thờ Tam vị đại vương đã có công đánh giặc ngoại xâm, giữ nước. Đình đã được UBND tỉnh xếp hạng là Di tích Lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ năm 2007.
Dân cư và nguồn lao động Năm 2008, dân số của huyện là 172.694 người với mật độ dân số trung bình là 228.2 người/km2.