CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LÃNH THỔ VIỆT NAM TỪ THỜI DỰNG NƯỚC ĐẾN THẾ KỈ XV Lịch sử Việt Nam phải là lịch sử của tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Các dân tộc ấy đã khai phá và làm chủ mọi vùng miền của đất nước từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mau, đã thống nhất lại thành dân tộc Việt Nam. Vì mục đích của luận văn là làm sáng tỏ quá trình tạo dựng lãnh thổ phía Nam thời các chúa Nguyễn (từ thế kỉ XVI - XVIII) mà dân tộc Việt – người Kinh là dân tộc chủ thể nên nội dung thường xoay quanh lịch sử dân tộc Việt. Nhà nước đầu tiên của người Việt là nhà nước Văn Lang.
Văn Lang ra đời là do nhu cầu trị thủy và nhu cầu chống ngoại xâm trên cơ sở chung một nguồn gốc văn hóa của các bộ lạc sống trên địa bàn miền Bắc Việt Nam ngày nay. Sự ra đời nhà nước đầu tiên của người Việt đúng như kết luận về qui trình hình thành nhà nước của Enghen: ”Trên cơ sở phân hóa xã hội là tiền đề vật chất không thể thiếu được, yêu cầu tổ chức công trình tưới nước và yêu cầu đấu tranh tự vệ làm cho nhà nước lúc ban đầu vốn là chức năng xã hội tiêu biểu cho lợi ích chung của cộng đồng, rồi chuyển sang địa vị độc lập với xã hội” [38,252]. Hình thái xã hội của Văn Lang theo quan điểm Mác-xít là hình thái phương thức sản xuất châu Á. Hết thời Văn Lang, nhà nước Âu Lạc đã kế thừa và đưa dân Lạc Việt xuống làm chủ đồng bằng Bắc bộ, xây dựng kinh đô mới ở Cổ Loa [109,99].
Nhưng An Dương Vương không giữ được thành trước sự tấn công của nhà Nam Việt, người Việt rơi vào thời kì hơn mười thế kỉ đấu tranh giành độc lập. Đến thế kỉ thứ X, quốc gia dân tộc Việt hồi sinh, phục hưng những giá trị cũ trên cơ sở tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa Hán. Trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, nước Đại Việt dần dần khẳng định mình ở khu vực. Đến thế kỉ XV Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh ở khu vực Đông Nam Á.
12 Một quốc gia dân tộc tồn tại trên một lãnh thổ của quốc gia dân tộc ấy, lãnh thổ đó thường biến thiên theo thời gian dưới tác động của thời cuộc. Nước ta có lịch sử tồn tại và phát triển lâu dài với vô số những biến cố lịch sử lớn đã làm cho lãnh thổ của nước ta cũng có một quá trình phát triển tương tự. Lãnh thổ không phải tất yếu nhưng nó cũng góp phần chứng tỏ sức sống của một dân tộc. LÃNH THỔ VIỆT NAM THỜI DỰNG NƯỚC Theo các bộ sử cũ, phần không gian của nước Xích Quỉ rất rộng lớn: phía Bắc giáp hồ Động Đình, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp Ba Thục và phía Nam giáp Hồ Tôn.
Địa bàn này ứng với không gian sinh tồn của các dân tộc Bách Việt. Còn người Lạc Việt thì chỉ tồn tại ở khu vực phía Bắc Việt Nam ngày nay. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn ghi nước ta thời Văn Lang gồm 15 bộ với địa vực cụ thể: 1. Giao Chỉ: Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định (ngày nay).
Chu Diên: Hà Nội 3. Phúc Lộc: Hà Nội 4. Vũ Ninh: Bắc Ninh. Việt Thường: Quảng Bình, Thừa Thiên Huế.
Ninh Hải: Quảng Ninh. Dương Tuyền: Hải Dương. Lục Hải: Lạng Sơn. Vũ Định: Thái Nguyên, Cao Bằng.
Hoài Hoan: Nghệ An. Cửu Chân: Thanh Hóa. Tân Hưng: Tuyên Quang. Cửu Đức: Hà Tĩnh.
Văn Lang: Phú Thọ, Vĩnh Phúc [85,22]. Tên gọi của 15 bộ lạc có vài khác biệt giữa một số bộ sách có chép như Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái, Dư địa chí (Nguyễn Trãi) nhưng có một điểm chung là hầu hết các sách đều thống nhất lãnh thổ nước ta thời kì dựng nước ở vào khoảng miền Bắc ngày nay kéo dài đến hết Hà Tĩnh. Vùng đất ấy với các châu thổ sông Hồng, sông Mã và sông Cả đã cho dân tộc Việt một lãnh thổ lý tưởng buổi 13 đầu để trưởng thành. Kết hợp với ngành khảo cổ học, chúng ta thấy là không gian trên ứng với đất sống của chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn.
Vậy là ngay từ thời sơ sử, lãnh thổ của dân tộc ta đã được xác lập rõ ràng và từ đó tồn tại, mở rộng ra mà chủ yếu là về hướng Nam và Đông. Vào thế kỉ thứ II tcn, bộ phận người Âu Việt mạnh lên dưới sự lãnh đạo của Thục Phán đã chiếm và sáp nhập nước Văn Lang, hợp nhất với người Lạc Việt thành quốc gia mới là Âu Lạc. Nước Âu Lạc gồm có các bộ lạc sau: Mê Linh, Long Biên, Kê Từ, Khúc Dương, Tư Phố, Đô Lung, Tây Vu, Chu Diên, An Định, Vô Công, Cư Phong, Hàm Hoan, Liên Lâu, Bắc Đái, Câu Lậu, Dư Phát, Vô Biên [4,24]. Tên gọi và số lượng thay đổi nhiều nhưng về cơ bản thì lãnh thổ nước ta ngày ấy là phần miền Bắc ngày nay kéo dài tới núi Hoành Sơn.
Từ nước Văn Lang đến nước Âu Lạc, các nhà khoa học thấy được một sự dịch chuyển dân cư hay cũng chính là xác định địa bàn cư trú mới, không gian lãnh thổ mới. Phong Châu ở vào vị trí đỉnh của tam giác châu, vẫn còn là đất đồi núi. Cổ Loa thì nằm giữa đồng bằng sông Hồng. Có nghĩa là người Việt đã mở rộng không gian sống theo các dòng sông và theo xu hướng dịch chuyển về phía Nam.
Xu hướng ấy trước hết hợp lý về mặt tự nhiên. Tóm lại, trong thời kì dựng nước, người Việt đã định hình được về cơ bản lãnh thổ của mình, nhất là phần tiếp giáp với người phương Bắc. Đó chính là tiền đề chính và quan trọng để xác định lại địa giới quốc gia khi có những biến cố lịch sử lớn. Lãnh thổ của người Việt đã kéo dài từ miền Hà Giang ra Quảng Ninh và xuống tới Hà Tĩnh.
LÃNH THỔ VIỆT NAM THỜI ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP Sau thất bại của thành Cổ Loa trước sự tấn công của Nam Việt, Âu Lạc bị sáp nhập vào nước của Triệu Đà, mở ra một thời kì đen tối nhưng cũng oai hùng của dân tộc Việt. Lãnh thổ Âu Lạc bị chia thành hai quận là Giao Chỉ (từ phía Bắc đến Ninh Bình), Cửu Chân (đến Hoành Sơn). Phần phía Nam đèo Ngang đến đèo Cả được nhà Nam Việt gọi là Cửu Chân. Cụ thể từng quận như sau: quận Giao Chỉ bị chia thành các huyện: Liên Lâu, An Định, Câu Lậu, Mê Linh, Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên và Chu Diên.
Quận Cửu Chân thì có các huyện: 14 Tư Phố, Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên [22,28]. Nếu xem địa vực cụ thể thì ứng với lãnh thổ thời An Dương Vương. Sang các triều đại khác cai trị nước ta, dù tên gọi có thay đổi nhưng lãnh thổ cư trú của người Việt vẫn không thay đổi. Trong hơn một ngàn năm bị xâm chiếm, người Việt không ngừng đấu tranh bằng các cuộc khởi nghĩa như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng.
Mỗi khi có điều kiện phục hồi chủ quyền thì lập tức lãnh thổ cũng được phục hồi trên nguyên tắc lãnh thổ của thời Văn Lang – Âu Lạc. Điều ấy chứng tỏ rằng ý thức của người Việt rất cao về dân tộc, lãnh thổ của dân tộc mình. Cần chú ý thêm vào thời nhà Đường có xuất hiện An Nam đô hộ phủ và châu Ki mi. Châu Ki mi là các vùng đất của các dân tộc ít người ở miền Tây Bắc và Đông Bắc bị quân đô hộ đánh chiếm và cho lệ vào An Nam đô hộ phủ.
Điều này làm cho lãnh thổ của quận Giao Chỉ rộng ra đôi chút so với cũ. Tuy nhiên, lãnh thổ của người Việt không lớn ra nhiều nhưng sự chiếm lĩnh của họ đối với các miền đất đai là đáng kể. Dân số không ngừng tăng lên và quá trình khai thác không gian sống càng hiệu quả mặc cho những chính sách đồng hóa của kẻ thù. Điều này góp phần giữ gìn nguyên vẹn ý thức về lãnh thổ, không gian sống của dân tộc sau hơn một ngàn năm bị đô hộ.
Ý thức ấy sẽ trỗi dậy mạnh mẽ khi người Việt có cơ hội độc lập. LÃNH THỔ VIỆT NAM THỜI ĐỘC LẬP Năm 907 đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử nước ta khi họ Khúc dấy nghiệp, cơ đồ xưa của con cháu Hùng Vương, An Dương Vương bắt đầu phục hưng. Lợi dụng tình hình của nhà nước cai trị, họ Khúc rồi họ Dương tiến từng bước dài lấy lại nền độc lập và tự chủ. Lãnh thổ cũng vì vậy mà phục hồi.
Khi Ngô Quyền lên ngôi năm 939, cương vực đất nước chưa được phân định rõ ràng vì Ngô Quyền hầu như chỉ cai quản phần đất của dân Lạc Việt còn các phần đất của nhiều châu Ki mi thì do các tù trưởng làm chủ [4,85]. Năm 945, Ngô Quyền mất, đất nước rơi vào loạn lạc. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất được các sứ quân, lên ngôi hoàng đế. Lãnh thổ đất nước được ghi chép chỉ có 10 đạo mà không rõ tên gọi và vị trí.
Đến thời Tiền Lê, cho dù chính quyền có được củng cố nhưng lãnh thổ vẫn như cũ, có nghĩa là phía Nam kéo dài đến đèo Ngang còn phía Đông Bắc và Tây Bắc vẫn còn nhiều châu Ki mi độc lập. 15 Lãnh thổ của Việt Nam có nhiều thay đổi lớn lao dưới thời Lý. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông mang quân đánh nước Chiêm Thành, bắt được cả vua Chế Củ. Người Chăm đã phải chịu mất đi ba châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chánh.
Năm 1076, vua sai Lý Thường Kiệt đi kinh lý ba châu trên. Như vậy, về phía Nam, lãnh thổ của Đại Việt đã kéo dài tới Quảng Trị. Ở mạn Bắc, cũng chính Lý Thường Kiệt vâng lệnh vua Lý Nhân Tông đi trấn giữ các châu miền núi. Dần dần các châu miền núi thật sự dính vào lãnh thổ của người Việt.
Nhà Lý chia cả nước thành 24 đơn vị hành chính và có sự sắp đặt quan lại, cai trị chặt chẽ. Về sự kiện năm 1069: vua Lý Thánh Tông mang đại quân chinh phạt Chiêm Thành có nguyên nhân trực tiếp là sự không thần phục, cống nạp cho Đại Việt của Chiêm Thành và Chiêm Thành muốn dựa vào nhà Tống. Còn nguyên nhân sâu xa là Đại Việt đang lớn mạnh và muốn mở rộng lãnh thổ. Thêm vào đó, đánh Chiêm Thành cũng là để tự vệ: biết được âm mưu của nhà Tống muốn tấn công Đại Việt từ hai phía.