Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG CHỨNG 1. Khái niệm, vai trò của công chứng trong quản lý hành chính nhà nước 1. Khái niệm công chứng Để tìm hiểu bản chất, vai trò, ý nghĩa của một vấn đề, trước tiên cần xác định được khái niệm của vấn đề đó. Công chứng cũng vậy, việc xác định rõ khái niệm và bản chất công chứng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng, quyết định đến sự hình thành thể chế cho cơ chế hoạt động, mô hình tổ chức và căn cứ vào đó khẳng định được phạm vi, nội dung công chứng; đảm bảo phát huy vai trò công chứng và hiệu quả công chứng trong đời sống xã hội.
Tìm hiểu về nguồn gốc công chứng cho thấy, công chứng là nghề sớm xuất hiện trong lịch sử loài người (từ thời La Mã cổ đại), với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng. Công chứng viên, theo tiếng Latinh là “Notarius”. “Notarius” trong Luật Anh cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng. Trong Luật La Mã, là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của tòa án, hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu.
Hiện nay, ở mỗi nước khác nhau, pháp luật cũng đưa ra những khái niệm về công chứng khác nhau: Tại Cộng hòa Pháp, các nhà làm luật không trực tiếp đưa ra khái niệm về công chứng, thay vào đó, họ xây dựng khái niệm công chứng viên, chủ thể thực hiện công chứng. Điều 1, Pháp lệnh số 45-2500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ Công chứng của nước Cộng hòa Pháp quy định: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công chứng viên là viên chức công được bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó các bên phải hoặc muốn đem lại một tính xác thực, giống như các văn bản của các cơ quan công quyền khác và để bảo đảm ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng [44]. Ở khái niệm này, quan niệm về công chứng được ghi nhận thông qua nhiệm vụ của công chứng viên nhằm đáp ứng yêu cầu tối thiểu đối với một văn bản công chứng (như ngày tháng tạo lập văn bản công chứng đó, như lưu giữ và cấp bản sao văn bản công chứng). Qua đó, khái niệm khẳng định tính công quyền của công chứng thông qua việc quy định chủ thể thực hiện là cá nhân công chứng viên, đồng thời là viên chức công và quy định giá trị pháp lý của văn bản công chứng tương đương với những văn bản do cơ quan công quyền ban hành; mục đích của hoạt động công chứng là tính xác thực của các hợp đồng và văn bản được công chứng.
Khái niệm công chứng viên của Cộng hòa Bê Nanh giống như khái niệm công chứng viên của Cộng hòa Pháp, tuy nhiên có quy định bổ sung về phạm vi điều chỉnh về không gian của khái niệm. Điều 1, Điều lệ Công chứng nước Cộng hòa Bê Nanh được ban hành kèm theo Lệnh số 48/PR ngày 29/8/1968 nêu rõ: Trong phạm vi thẩm quyền của Tòa thượng thẩm COTONU, công chứng viên là viên chức công được bổ nhiệm để lập những văn bản và hợp đồng mà qua đó các bên đương sự phải hoặc muốn tạo cho chúng có tính xác thực như các văn bản của chính quyền và có trách nhiệm bảo đảm đúng ngày tháng của các văn bản hợp đồng, lưu giữ và cấp cho đương sự bản sao của các văn bản, hợp đồng đó [21]. Tương tự, khái niệm công chứng viên được ghi nhận trong pháp luật của Cộng hòa Ba Lan. Khoản 1, Điều 1, Luật ngày 14/2/1991 của nước Cộng hòa Ba Lan về công chứng cho rằng: "Công chứng viên được bổ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiệm để lập những văn bản mà trong đó các bên phải hoặc muốn đem lại một tính đích thực" [20].
Ở Việt Nam, đến nay, về mặt lý luận, khái niệm công chứng chưa được làm rõ, quan niệm về công chứng mới chỉ được thể hiện thông qua các văn bản pháp lý về công chứng. Thuật ngữ "công chứng" xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam trong Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp. Cho đến nay, ở nước ta khái niệm công chứng chưa được đưa ra dưới hình thức một nghiên cứu khoa học pháp lý chính thức mà chỉ được nêu ra dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ khái niệm công chứng lần đầu tiên được nêu tại Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp về công tác công chứng, theo đó: Công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện.
Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [4]. Tại Điều 1 Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng quy định: Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [39]. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ. Tại Điều 2 Luật Công chứng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua ngày 29/11/2006 xác định: Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng [46].
Qua phân tích các quan niệm về công chứng đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam, có thể thấy, hầu hết các khái niệm đều chứa đựng những yếu tố: Chủ thể thực hiện công chứng, mục đích công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng., cụ thể: Về chủ thể công chứng, có thể là cá nhân công chứng viên hoặc tổ chức (cơ quan có thẩm quyền công chứng theo quy định của pháp luật). Cơ quan có thẩm quyền công chứng có thể là đơn vị thực hiện công chứng chuyên nghiệp (ví dụ, phòng công chứng nhà nước, văn phòng công chứng) hay cũng có thể là đơn vị thực hiện công chứng (sau này còn được gọi dưới cái tên chứng thực) một cách kiêm nhiệm như Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Tại Điều 24, Pháp lệnh Lãnh sự ngày 24/11/1990 của Hội đồng Nhà nước quy định nhiệm vụ "thực hiện công chứng” [38] của cơ quan lãnh sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước ngoài và các Điều 19, Nghị định số 45/HĐBT; Điều 16, Nghị định số 31/CP và Điều 25, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP cũng quy định chức trách giải quyết yêu cầu công chứng cho 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công dân Việt Nam tại nước ngoài của hệ thống cơ quan lãnh sự. Như vậy, cơ quan lãnh sự, mặc dù không phải là một cơ quan công chứng chuyên trách nhưng hoạt động của họ liên quan đến lĩnh vực bổ trợ tư pháp này vẫn được gọi là "công chứng".
Từ cách quy định chủ thể công chứng qua từng thời kỳ, cho thấy chế định công chứng Việt Nam luôn ghi nhận yếu tố công quyền trong hoạt động công chứng. Về mục đích của công chứng, giống như các quốc gia khác, mục đích của công chứng Việt Nam chính là tính "xác thực" của hợp đồng, giao dịch hay sự kiện pháp lý mà nó đứng ra làm chứng. Tuy nhiên, cách quan niệm như thế nào là "xác thực" trong hoạt động công chứng hiện vẫn chưa được thống nhất và việc đồng nhất tính xác thực của hợp đồng, giao dịch với tính xác thực của giấy tờ, tài liệu chưa được phân định rõ ràng theo mục đích thật sự mà công chứng hướng đến. Bên cạnh đó, tại Luật Công chứng năm 2006, lần đầu tiên ghi nhận mục đích của công chứng là việc chứng nhận tính "hợp pháp".
Có thể khẳng định, trong thời điểm hiện tại, xác nhận tính hợp pháp của giao dịch, hợp đồng chính là một trong những mục đích hàng đầu của công chứng nước ta. Sở dĩ có quy định trên là do đứng về mặt ngữ nghĩa, xác thực và hợp pháp là hai phạm trù khác hẳn nhau. Trên cả bình diện lý luận và thực tế, một sự việc "xác thực" không có nghĩa là sự việc đó hợp pháp. Quy định này trong Luật Công chứng năm 2006 nhằm khẳng định dứt khoát, bên cạnh tính "xác thực" thì tính "hợp pháp" của hợp đồng, giao dịch là mục đích mà công chứng cần đạt được.
Về giá trị pháp lý của văn bản công chứng, các văn bản công chứng có giá trị xác thực, giá trị pháp lý và độ tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có chứng nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng. Các văn bản công chứng bảo đảm sự an toàn của các giao dịch, tạo nên sự tin tưởng của khách hàng, hạn chế mức thấp nhất các tranh chấp xảy ra. Về phương diện nhà nước 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng đảm bảo trật tự, kỷ cương, ổn định trong việc quản lý các giao dịch; từ đó cũng góp phần làm giảm đáng kể việc giải quyết tranh chấp luôn là gánh nặng của các cơ quan chức năng và giúp các cơ quan chức năng quản lý tốt hơn các hoạt động giao dịch. Như vậy, qua các giai đoạn khác nhau, khái niệm công chứng có một số thay đổi nhất định.
Sự thay đổi này thể hiện quan điểm chính thức của Nhà nước về bản chất công chứng, phản ánh kỹ thuật lập pháp của nước ta qua từng thời kỳ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.