phần mở đầu và kết luận luận văn gồm các phần sau: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP. CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC Ở NHÀ MÁY GẠCH MEN MIKADO. CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC Ở NHÀ MÁY GẠCH MEN MIKADO. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Vai trò và ý nghĩa của quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực a. Lịch sử hình thành khái niệm nguồn nhân lực Trên thế giới, khái niệm quản trị nguồn nhân lực (Human Resource Management thƣờng đƣợc viết tắt là HRM) đã đƣợc hình thành từ những năm nửa cuối thế kỷ XX bởi Drucker (1954), Bakke (1958); sau đó đƣợc đƣa vào các công trình nghiên cứu của Beer và nhóm các nhà nghiên cứu (1984), Schuler (1990), Lewin (1991). Các tác giả đã cho rằng cần phải coi ngƣời lao động là nguồn lực có giá trị trong tổ chức.
Song song với trƣờng phái coi trọng nguồn lực lao động nhƣ một nguồn lực quan trọng là trƣờng phái đồng nhất khái niệm quản trị nguồn nhân lực nhƣ là quản lý con ngƣời. Đó là các tác giả Henneman và các cộng sự (1980), Peterson và Tracy (1979), Strauss và Sayles (1980); các tác giả này cho rằng quản lý con ngƣời bao gồm các quy tắc làm cho việc sử dụng ngƣời lao động hiệu quả hơn và cố gắng cụ thể hóa các nguyên tắc đó. Trƣờng phái thứ ba xuất hiện ở Anh thời kỳ thủ tƣớng quá cố Thatcher nắm quyền. Các học giả cho rằng quản trị nguồn nhân lực thực chất chủ yếu là ngụy biện cho các biện pháp quản lý, và truyền đạt cho sự hợp pháp của các công cụ của các nhà quản lý [15].
Tại Việt Nam, từ sau những năm 1975 giải phóng đất nƣớc, trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới quản trị nguồn nhân lực mang dấu ấn đậm nét của nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa. Quản trị nguồn nhân lực lúc này theo trƣờng phái các lý thuyết quản trị của Taylor (quản lý theo khoa học) áp dụng vào điều kiện làm việc của các xí nghiệp xã hội chủ nghĩa. Các doanh nghiệp tƣ nhân không có điều kiện phát triển, còn trong các doanh nghiệp nhà nƣớc toàn bộ các chính sách nhân sự nhƣ chế độ tuyển dụng, đào tạo và phát triển, lƣơng thƣởng, thăng chức, quan hệ lao động… đều là các chính sách chung của Nhà nƣớc và hầu nhƣ không liên quan gì 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến thực tiễn hoạt động trong từng doanh nghiệp cụ thể [2]. Quá trình áp dụng mô hình quản trị nguồn nhân lực trong thời gian ban đầu đã phát huy tính ƣu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với chế độ thực dân phong kiến, nó có tác dụng động viên ngƣời lao động, khơi dậy tinh thần lao động và sự tự nguyện lao động để xây dựng một xã hội chủ nghĩa tƣơng lai tốt đẹp.
Tuy nhiên, sau một thời gian dài không đáp ứng đƣợc với sự thay đổi của môi trƣờng kinh tế xã hội thì nó mất đi tính ƣu việt ban đầu và không còn mang tính kích thích ngƣời lao động làm việc nữa do chủ nghĩa “cào bằng”, “bình quân” trong lao động. Vì vậy, các doanh nghiệp quốc doanh hoạt động ngày càng kém hiệu quả, Nhà nƣớc phải bù lỗ cho các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng, thì thực tiễn quản trị nhân sự ở Việt Nam thực tế là quá trình chuyển đổi vai trò giám sát chặt chẽ và sự can thiệp sâu của Nhà nƣớc sang chế độ tự chủ cho các doanh nghiệp. Sự khác biệt của quản trị nhân sự ở các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh giảm dần [2].
Sự tiến bộ trong quản trị nhân sự của các doanh nghiệp đã giúp cho ngƣời lao động nâng cao khả năng tự vận động, năng suất và chất lƣợng lao động cũng đƣợc tăng lên thúc đẩy hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Ngày nay, với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế và toàn cầu hóa, khái niệm nguồn nhân lực trở lên phổ biến rộng rãi. Nguồn lực con ngƣời ngày càng trở lên quan trọng trong mọi tổ chức và các nghiên cứu về công tác quản trị nguồn nhân lực giúp tăng tính hiệu quả trong các tổ chức ngày càng đƣợc đề cao. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực về con ngƣời và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh.
Trƣớc hết với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Nguồn nhân lực với tƣ cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là khả năng lao động của xã hội đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tƣơng đƣơng với nguồn lao động. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp các cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những ngƣời từ giới hạn độ tuổi lao động trở lên (ở nƣớc ta là tròn 15 tuổi). Các cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực, song đều thống nhất với nhau đó chính là nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của xã hội. Nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên giác độ số lƣợng và chất lƣợng, số lƣợng nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu nhƣ quy mô và tốc độ tăng trƣởng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số càng cao thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngƣợc lại.
Về chất lƣợng nguồn nhân lực, đƣợc xem xét trên mặt trình độ văn hóa, sức khỏe, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phẩm chất…. Ngày nay nguồn nhân lực đƣợc đánh giá là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự tiến bộ và phát triển của xã hội. Có nhiều cách hiểu về quản trị nguồn nhân lực có thể đƣợc trình bày ở nhiều giác độ khác nhau: Thứ nhất: Dƣới giác độ tổ chức quá trình lao động thì: Quản trị nguồn nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hƣớng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra trao đổi chất (năng lƣợng, thần kinh, bắp thịt) giữa con ngƣời với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tƣợng lao động, năng lƣợng…) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời nhằm duy trì, bảo vệ, sử dụng và phát triển tiềm năng vô tận của con ngƣời. Thứ hai: Với tƣ cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị thì quản trị nguồn nhân lực bao gồm việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con ngƣời để có thể đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.
Thứ ba: Đi sâu vào việc làm của quản trị nguồn nhân lực, ngƣời ta có thể hiểu quản trị nguồn nhân lực là việc tuyển mộ, tuyển chọn duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Song dù ở giác độ nào thì quản trị nguồn nhân lực (quản trị tài nguyên nhân sự [9]) là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu cho cả tổ chức lẫn nhân viên [2]. Vai trò và ý nghĩa của quản trị nguồn nhân lực Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác, quản lý và sử dụng hợp lý hiệu quả các nguồn lực của đất nƣớc bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, trình độ khoa học công nghệ và tiềm lực về con ngƣời hay nguồn nhân lực. Trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quyết định, là nhân tố của sự phát triển và mục tiêu cuối cùng của sự phát triển là nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn cuộc sống của con ngƣời.
Nhƣ vậy, con ngƣời vừa là động lực vừa là cái đích cuối cùng của sự phát triển. Mọi hoạt động sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần xét đến cùng đều xuất phát từ hoạt động của con ngƣời. Con ngƣời phát minh, sáng chế và sử dụng tƣ liệu lao động tác động vào đối tƣợng lao động để tạo ra các sản phẩm phục vụ cho mình và cho xã hội. Nguồn nhân lực chính là nguồn "nội lực" nếu biết phát huy, nó có thể nhân lên sức mạnh của các nguồn lực khác.
Nƣớc ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có loại tái tạo đƣợc có loại không tái tạo đƣợc. Những tài nguyên đó đã đang đóng góp quan trọng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nƣớc. Tuy nhiên việc khai thác, quản lý, sử dụng và tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên lại do chính con ngƣời quyết định. Ngày nay tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ đang góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nƣớc.
Nhƣng để có thể sử dụng và phát huy đƣợc những thành tựu đó đòi hỏi phải có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tức là phải có đội ngũ lao động phù hợp đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất. Nếu không có đội ngũ lao động phù hợp thì cả tài nguyên thiên nhiên lẫn các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại cũng thể phát huy đƣợc vai trò và sức mạnh của nó. Kinh nghiệm của các nƣớc phát triển trên thế giới cho thấy nƣớc nào biết chăm lo sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, biết phát huy nhân tố con ngƣời thì 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nƣớc đó có thể đạt đƣợc tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng mặc dù không giàu tài nguyên thiên nhiên và trình độ khoa học, kỹ thuật chƣa phát triển. Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… là những ví dụ điển hình.