Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Đặc điểm và sự phân hóa cảnh quan nhân sinh huyện Vân Đồn, tỉnh Quản Ninh. Chương 3: Định hướng quản lý và bảo vệ môi trường huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu theo hướng địa lý phục vụ cho quản lý và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu theo hướng địa lý tổng hợp là đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ nghiên cứu. Hiện nay, các nghiên cứu về cơ sở địa lý đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường.
Đây là một hướng nghiên cứu quan trọng trong hệ thống các khoa học địa lý, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Trên thế giới, hướng nghiên cứu địa lý cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được tiến hành từ cuối thế kỷ XIX với những công trình nghiên cứu đầu tiên của nhà khoa học người Nga V.Docutraev về các đới tự nhiên và áp dụng vào nghiên cứu tài nguyên môi trường của các địa phương cụ thể. Sau đó, hàng loạt những công trình nghiên cứu khoa học về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường theo hướng tiếp cận địa lý của các nhà địa lý Xô Viết như S.Grigoriev ra đời. Các nghiên cứu như: Địa lý tự nhiên ứng dụng của Shisenko P.Ixatsenko với các nghiên cứu về cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên, 1969 ; Cảnh quan học ứng dụng, 1985.
Các nghiên cứu của Schaepfer và nnk (2002), Marcucci J. đã chỉ ra hướng xác lập cơ sở địa lý và cảnh quan cho sử dụng hợp lý TNTN và BVMT là rất phù hợp và cần thiết. Ngoài ra, không thể không kể đến các nghiên cứu của các nhà địa lý Ucraina, Bungari, Đức. đã hoàn thiện thêm về địa lý ứng dụng trong thực tiễn.
Gần đây, quan điểm địa lý học cũng được vận dụng triệt để trong tác phẩm nổi tiếng “Integrated Environmental Planning” của James K.Lain (Đại học Ohio, Mỹ, 2003) về việc quy hoạch môi trường, giúp định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Những kết quả nghiên cứu địa lý trong thời gian qua đã đánh dấu bước phát triển mới trong nghiên cứu cảnh quan (CQ) với sự chuyển dần từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng và ngày càng đa dạng về nội dung. Nhiều phương pháp tiếp cận mang tính liên ngành được sử dụng như phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái… đã tạo nên bước ngoặt trong nghiên cứu cảnh quan từ nghiên cứu cứu cấu trúc, hình thái sang nghiên cứu cả chức năng và động lực của cảnh quan. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, hướng tiếp cận địa lý tổng hợp đã được áp dụng trong thực tiễn nghiên cứu.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan cũng như đánh giá tổng hợp nhằm mục đích sử dụng hợp lý lãnh thổ và bảo vệ môi trường (BVMT), cũng như các công trình mang tính lý thuyết cảnh quan ứng dụng của các tác giả Vũ Tự Lập, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần,…Năm 1976, trong cuốn “Cảnh quan Địa lý miền Bắc Việt Nam”, Vũ Tự Lập đã trình bày về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tổng hợp cảnh quan. Đồng thời, năm 1978, Vũ Tự Lập cũng đã tiến hành phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành 3 miền trên cơ sở cảnh quan: Miền Bắc và Đông Bắc, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Cũng dựa trên cơ sở cảnh quan, cụ thể là bản đồ cảnh quan sinh thái Việt Nam tỷ lệ 1:1.000, các tác giả phòng Địa lý Thổ nhưỡng, Trung tâm Địa lý Tài nguyên (1992) đã chia lãnh thổ Việt Nam thành 9 miền địa lý tự nhiên theo các đơn vị địa hình cấu trúc và theo độ cao địa hình. Nhìn chung, các nghiên cứu về phân vùng địa lý phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo mệ môi trường chủ yếu dựa dữ liệu nghiên cứu về điều kiện tự nhiên mà chưa đánh giá được tác động nhân sinh vì vậy còn gặp rất nhiều hạn chế.
Năm 1997, trong “Cơ sở cảnh quan của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam”, các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh có nội dung nghiên cứu là phân tích đặc điểm và biến đổi của tự nhiên Việt Nam với vai trò là các nhân tố tạo thành cảnh quan; tổng luận những vấn đề lý luận của cảnh quan học và việc vận dụng trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới gió mùa. Tiếp sau đó là các tác phẩm như: Nghiên cứu địa lý tổng hợp ứng dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Nguyễn Cao Huần, Hoàng Danh Sơn, và nnk 2004, 2006); Nghiên cứu ứng dụng cảnh quan trong lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch bảo vệ Môi trường (Phạm Quang Anh 1996; Nguyễn Cao Huần, 2002, 2004, 2005). Tổng quan các nghiên cứu theo hướng cảnh quan nhân sinh Nghiên cứu về CQNS phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường đã được nhiều nhà khoa học quan tâm với nhiều quan điểm, phương pháp và lý luận khác nhau. Theo nhà địa lý văn hóa Mỹ Sauer CQ văn hóa là CQ tự nhiên qua thời gian chịu sự chi phối của nhân tố con người (văn hóa) hình thành nên các đơn vị lãnh thổ mang dấu ấn của con người với các hoạt động nhân sinh phong phú và đa dạng (nông nghiệp, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghiệp…).
Tác giả đã xem xét những CQ được thành tạo sau khi có hoạt động của một nền văn hóa, một nhóm yếu tố văn hóa lên tự nhiên [28]. Quan niệm trên của Sauer được rất nhiều tác giả ủng hộ như: Lovejoy (1973), McComark, O’Leary (2000)… Ở một cách tiếp cận khác, thuật ngữ CQNS được Gozep sử dụng từ năm 1930 khi ông dùng nó vào việc định rõ đặc tính các dạng lãnh thổ ở khu vực địa hình cát. Tiếp theo là Ramenxki 1935, 1938 đã chú ý tới các đơn vị CQ hình thành dưới các tác động của con người, ông cho rằng, đối tượng nghiên cứu của CQ học không phải chỉ ở mỗi đơn vị CQ tự nhiên mà cả những CQ biến đổi do con người và cả những CQ văn hóa do con người tạo ra, đó chính là CQNS. Tuy nhiên khi đó những khái niệm về CQNS đưa ra còn chưa rõ ràng và tùy thuộc vào những nghiên cứu cụ thể, tùy vào góc độ nhìn nhận mà quan niệm của mỗi người có khác nhau.
Vào năm 1973, theo Minkov: “CQNS là các CQ được xây dựng bởi con người và cũng là các CQ tự nhiên mà trong đó có bất kỳ một thành phần nào bị thay đổi tận gốc và không tận gốc của các hợp phần đó”. Chúng ta có thể thấy rằng Minkov đã thừa nhận rõ ràng có sự tồn tại của CQNS, không chỉ là các CQ được xây dựng bởi các công trình kỹ thuật của con người, mà còn bao gồm các CQ tự nhiên đã bị tác động để dẫn đến một hợp phần nào đó bị thay đổi. Trong từ điển Bách khoa toàn thư địa lý Liên Xô (1988) chỉ rõ: “CQNS là CQ địa lý được tạo nên từ kết quả các hoạt động có mục đích của con người, đồng thời cũng là những CQ xuất hiện trong quá trình biến đổi CQ tự nhiên ngoài ý thức của con người”. Trong khi đó, Drozdov (1988) lại xem xét CQNS ở khía cạnh dưới mọi hình thức tác động chủ quan và khách quan của con người.
Theo ông: “CQNS là các địa tổng thể mà trong đó có sự biến dạng nảy sinh liên quan đến sự xuất hiện của hoạt động con người”. Đây là một khái niệm khá rộng, hàm chứa cả sự thay đổi CQ dưới tác động gián tiếp của con người. Có thể nhận thấy rằng, hầu hết những CQ tự nhiên khi xuất hiện những tác động trực tiếp hay gián tiếp (quản lý, bảo tồn) đều trở thành CQNS và như vậy cũng giống như Sauer và nhiều nhà địa lý khác, CQNS của Drozdov chứa đựng 2 nhóm nhân tố cấu thành là tự nhiên và nhân sinh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo hướng này, công trình nghiên cứu của Ixatsenko (1991) xem CQNS chỉ là sự biến dạng khác nhau của CQ tự nhiên do hoạt động của con người gây ra.
Năm 1999, khi nghiên cứu quy luật hình thành và sự phân hóa các CQ sinh thái nhân sinh vùng nhiệt đới ẩm gió mùa Việt Nam, Nguyễn Văn Vinh và cộng sự đã xem xét tới CQNS. Tiếp thu những thành tựu của các tác giả nước ngoài, ông đã nghiên cứu các CQ sinh thái nhân sinh theo các mức độ tác động của con người. Mặc dù không dùng thuật ngữ CQNS nhưng xét về bản chất thì đối tượng nghiên cứu ở đây chính là CQNS [12]. Nguyễn Cao Huần cũng đã đề cập tới CQNS từ những năm cuối của thế kỷ XX, nhưng mãi tới năm 2002 mới công bố công trình về nghiên cứu CQNS ở Việt Nam.
Trong đó tác giả đã đề cập tới các khái niệm và đặc biệt là nguyên tắc và chỉ tiêu phân loại. Đồng thời, đề xuất một hệ thống phân loại CQNS cho toàn lãnh thổ Việt Nam. Nguyễn Cao Huần trên cơ sở thừa nhận những quan điểm hợp lý của các tác giả nước ngoài và qua quá trình nghiên cứu thực tế đã xem “Cảnh quan nhân sinh là CQ tự nhiên mà trong đó có bất kỳ một hợp phần nào đó bị biến đổi hoặc được bảo tồn bởi hoạt động của con người”. Tác giả nhận thấy trong thực tế có những CQ ít bị biến đổi nhưng được bảo tồn, quản lý bởi con người và có xu thế được cải thiện nhờ sự quản lý khôn ngoan của con người, đó cũng chính là một dạng CQNS, ví dụ khu bảo tồn thiên nhiên, rừng cấm.
Tác giả cũng cho rằng sự khác biệt lớn của CQNS so với CQ tự nhiên là nó chịu sự chi phối rõ rệt của quy luật xã hội (hình 1. CÁC HỢP PHẦN ĐƯỢC XÂY DỰNG Đầu vào Đầu ra CÁC HỢP PHẦN HOẶC BỊ BIẾN ĐỐI TỰ NHIÊN HOẶC BỊ BẢO TỒN BỞI CON NGƯỜI CẢNH QUAN NHÂN SINH Hình 1. Mô hình cấu trúc cảnh quan nhân sinh [7] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.