Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển đổi mô hình quản lý doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là trọng tâm của cải cách kinh tế tại Việt Nam. Bước sang giai đoạn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trước đây đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, làm triệt tiêu động lực phát triển và khiến khu vực DNNN rơi vào tình trạng trì trệ, kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh thấp. Mặc dù khu vực này nắm giữ 60% tài sản sản xuất của quốc gia, đóng góp 30% GDP và sử dụng 1,9 triệu lao động trên tổng số 38 triệu lao động cả nước, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi chỉ đạt khoảng 40%, trong khi số thua lỗ chiếm khoảng 20% và 40% còn lại hoạt động bấp bênh. Trước sức ép mở cửa và thực hiện các cam kết quốc tế, việc tái cơ cấu DNNN thông qua cổ phần hóa (CPH) trở thành một tất yếu khách quan nhằm huy động nguồn lực xã hội, đa dạng hóa sở hữu và tách bạch chức năng quản lý Nhà nước với chức năng kinh doanh.
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đỗ Đức Kiên (Lớp Anh 2, Khóa 41, Khoa Kinh tế Ngoại thương, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, do ThS. Nguyễn Thị Tường Anh hướng dẫn, hoàn thành vào tháng 10 năm 2006) đặt ra 3 nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về DNNN, công ty cổ phần, bản chất và tính tất yếu của CPH DNNN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời tổng kết các bài học kinh nghiệm CPH từ các quốc gia phát triển, khối Đông Âu và Trung Quốc.
- Phân tích thực trạng CPH DNNN tại Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 1992 đến năm 2005, đánh giá kết quả đạt được về quy mô, tốc độ, chuyển biến sản xuất - kinh doanh, đồng thời chỉ rõ những vướng mắc, tồn tại làm chậm tiến trình CPH.
- Đề xuất phương hướng và hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy tiến trình CPH DNNN, bao gồm các kiến nghị sửa đổi quy định pháp lý hiện hành (trọng tâm là Nghị định 187/2004/NĐ-CP) để tương thích với Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian bao quát hệ thống DNNN thuộc các Bộ, ngành, địa phương và các Tổng công ty Nhà nước (thành lập theo Quyết định 90/TTg và Quyết định 91/TTg). Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn hơn 15 năm thực hiện CPH, khởi đầu từ giai đoạn thí điểm năm 1992 đến hết năm 2005, với các mốc dữ liệu cập nhật tính đến thời điểm nghiên cứu năm 2006.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý và mô hình tổ chức kinh tế đã được thể chế hóa tại Việt Nam và trên thế giới:
- Khái niệm và tiêu chí phân loại DNNN: So sánh khái niệm DNNN theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước ngày 30/03/1995 (Nhà nước sở hữu 100% vốn, quản lý và tổ chức) với định nghĩa sửa đổi theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ). Phân loại DNNN căn cứ theo Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/04/2002 của Thủ tướng Chính phủ (phân định rõ ngành độc quyền Nhà nước nắm 100% vốn; nhóm nắm trên 50%; nhóm nắm cổ phần đặc biệt; nhóm Nhà nước nắm cổ phần thấp hoặc thoái hết vốn; chuyển đổi sang hình thức giao, bán đối với doanh nghiệp có vốn từ 5 tỷ đồng trở xuống; hoặc sáp nhập, giải thể, phá sản). Tiêu chí Tổng công ty Nhà nước thành lập theo Quyết định số 90/TTg và 91/TTg ngày 07/03/1994 (vốn Nhà nước từ 500 tỷ đồng trở lên, mức nộp ngân sách bình quân 3 năm từ 50 tỷ đồng trở lên; ngành đặc thù không dưới 100 tỷ đồng vốn và 10 tỷ đồng nộp ngân sách).
- Khung pháp lý về công ty cổ phần: Cơ cấu quản trị 4 cấp theo Luật Doanh nghiệp (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị tối đa 11 thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc, Ban kiểm soát 3-5 thành viên có chuyên môn kế toán). Quy định biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (tỷ lệ đại diện 51% tại phiên họp lần 1, 30% tại phiên họp lần 2; tỷ lệ thông qua quyết định lớn tối thiểu 65%). Quy định về các loại cổ phần: cổ phần phổ thông, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (nắm giữ tối thiểu 20% trong 3 năm đầu), cổ phần ưu đãi biểu quyết (hiệu lực 3 năm), cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại.
- Chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (11/1991), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (17/03/1995), Thông báo số 63-TB/TW (04/04/1997), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII (12/1997), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX (2001); các văn bản quản lý nhà nước gồm Quyết định 202/HĐBT (08/06/1992), Chỉ thị 84/TTg (04/03/1993), Thông tư 36/TC/CN (07/05/1993), Nghị định 28/CP (07/05/1996), Nghị định 25/CP, Nghị định 44/1998/NĐ-CP (29/06/1998), Nghị định 64/2002/NĐ-CP và Nghị định 187/2004/NĐ-CP (16/11/2004).
- Lý thuyết kinh tế và kinh nghiệm quốc tế: Vận dụng học thuyết kinh tế của John Maynard Keynes về vai trò kinh tế của Nhà nước; phân tích mô hình CPH và tư nhân hóa tại Anh, Pháp, Mỹ, các nền kinh tế chuyển đổi tại Đông Âu và chính sách "nắm lớn, buông nhỏ" tại Trung Quốc dựa trên Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân (13/04/1988) và Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh (23/07/1992).
Phương pháp nghiên cứu trong văn bản là nghiên cứu kinh tế ứng dụng kết hợp giữa phân tích lý luận, phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê mô tả. Tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích - tổng hợp chính sách, đối chiếu dữ liệu thống kê thứ cấp theo từng giai đoạn, phân loại cơ cấu quy mô vốn, ngành nghề, địa phương và phân tích điển cứu (case study) hoạt động tài chính của một số doanh nghiệp sau CPH.
Nguồn dữ liệu được thu thập trực tiếp từ Thư viện Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thư viện Quốc gia, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Ban Đổi mới Quản lý Doanh nghiệp Trung ương (các báo cáo tháng 02/2002 và 02/2005), ấn phẩm số liệu của Nhà xuất bản Thống kê (2001) và báo cáo tài chính doanh nghiệp do Công ty Chứng khoán Ngân hàng Á Châu (ACB) cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về CPH DNNN
Chương I tập trung luận giải cơ sở lý luận về DNNN và công ty cổ phần, làm rõ bản chất kinh tế của CPH và bài học từ các quốc gia trên thế giới. Tác giả phân tích nguồn gốc hình thành DNNN xuất phát từ nhu cầu khắc phục hậu quả chiến tranh, thực hiện quốc hữu hóa tư bản, phát triển sở hữu công cộng và cung cấp hàng hóa công ích theo mô hình kinh tế can thiệp.
Văn bản chỉ ra rằng sự tồn tại kéo dài của cơ chế bao cấp đã tạo ra ba lực cản lớn đối với DNNN:
- Gánh vác quá nhiều mục tiêu mâu thuẫn (vừa tối đa hóa lợi nhuận vừa phải giải quyết việc làm dư thừa và các chính sách xã hội).
- Chịu sự can thiệp trực tiếp từ nhiều cơ quan chủ quản về giá cả và đầu vào, làm suy giảm năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
- Thiếu cơ chế khuyến khích vật chất và trách nhiệm cá nhân rõ ràng; tình trạng thua lỗ không bị xử phạt nghiêm minh, triệt tiêu động lực kinh doanh.
Số liệu do tác giả trích dẫn cho thấy đến năm 1999, tình trạng tài chính khu vực DNNN rơi vào báo động: tốc độ tăng trưởng giảm từ mức bình quân 13%/năm xuống còn 8-9%; nợ phải thu chiếm trên 60% và nợ phải trả bằng 124% vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; 65% số doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng (trong đó 23% dưới 1 tỷ đồng); các mặt hàng trọng điểm như thép, xi măng, phân bón được bảo hộ cao khiến giá nội địa đắt hơn thị trường thế giới 10-50%.
Từ đó, chương khẳng định CPH không đồng nghĩa với tư nhân hóa thuần túy, mà là một hình thức cụ thể của tiến trình xã hội hóa đầu tư, tách quyền sở hữu của Nhà nước khỏi quyền điều hành kinh doanh trực tiếp, tạo cơ chế giám sát dân chủ của cổ đông, tăng thu ngân sách và hạn chế tham nhũng. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế nhấn mạnh bài học từ Trung Quốc trong việc kiên định quan điểm cải cách doanh nghiệp gắn liền với cơ chế thị trường, phân loại doanh nghiệp theo thứ tự quy mô nhỏ trước, vừa và lớn sau, đồng thời lập cơ quan chuyên trách quản lý phần vốn Nhà nước.
Chƣơng II: Thực trạng CPH các DNNN
Chương II phản ánh toàn diện tiến trình triển khai CPH tại Việt Nam thông qua ba giai đoạn phát triển cụ thể:
- Giai đoạn thí điểm (1992 đến tháng 5/1996): Thực hiện theo Quyết định 202/HĐBT và Chỉ thị 84/TTg. Do tâm lý e ngại, quy định định giá tài sản mang tính chủ quan và thiếu cơ chế tài chính cụ thể, sau gần 5 năm cả nước mới hoàn thành CPH tại 5 doanh nghiệp gồm: Công ty Cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (Bộ Giao thông Vận tải), Công ty Cổ phần Giày Hiệp An (Bộ Công nghiệp), Công ty Cổ phần Chế biến thức ăn gia súc (Bộ Nông nghiệp), Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh REE (UBND TP. Hồ Chí Minh) và Công ty Cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Long An (UBND tỉnh Long An).
- Thời kỳ mở rộng (tháng 5/1996 đến tháng 6/1998): Khung pháp lý được điều chỉnh bởi Nghị định 28/CP và Nghị định 25/CP cùng Thông báo 63/TB-TW. Tiến độ có sự chuyển biến khi cả nước CPH được 25 DNNN (gấp 5 lần giai đoạn thí điểm), trong đó tập trung tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; quy mô vốn có 1 doanh nghiệp đạt 120 tỷ đồng và 5 doanh nghiệp đạt trên 10 tỷ đồng.
- Thời kỳ đẩy mạnh hay giai đoạn chủ động (tháng 7/1998 đến năm 2005): Đột phá chính sách diễn ra khi Chính phủ ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 64/2002/NĐ-CP. Chỉ trong 6 tháng cuối năm 1998 đã CPH thành công 87 doanh nghiệp; năm 1999 hoàn tất 249 doanh nghiệp. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX (năm 2001), tiến trình CPH tăng tốc mạnh mẽ.
| Chỉ tiêu thống kê CPH |
Dữ liệu ghi nhận trong văn bản |
| Số lượng DNNN hoàn thành CPH năm 2005 |
754 đơn vị |
| Tổng số DNNN và bộ phận DNNN CPH lũy kế đến hết năm 2005 |
2.987 đơn vị |
| Số lượng DNNN CPH giai đoạn 5 năm 2001 - 2005 |
2.407 đơn vị (chiếm 80,4% tổng số lũy kế) |
| Số lượng DNNN CPH trong 2 năm 2004 - 2005 |
1.507 đơn vị (chiếm 58% tổng số lũy kế) |
| Tỷ lệ doanh nghiệp CPH có vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng |
56,1% |
| Tỷ lệ doanh nghiệp CPH có vốn Nhà nước từ 5 đến 10 tỷ đồng |
24,4% |
| Tỷ lệ doanh nghiệp CPH có vốn Nhà nước trên 10 tỷ đồng |
19,5% |
Về hiệu quả sản xuất - kinh doanh sau chuyển đổi, báo cáo của Ban Đổi mới Quản lý Doanh nghiệp Trung ương trên 370 doanh nghiệp sau CPH ghi nhận: doanh thu bình quân tăng 30%, lợi nhuận và mức nộp ngân sách tăng gấp 2 lần, vốn điều lệ tăng bình quân 15%/năm, thu nhập của người lao động tăng 1,5 đến 4 lần, số lượng việc làm tăng 20% và huy động được hơn 1.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội. Dữ liệu từ các doanh nghiệp niêm yết cho thấy: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khánh Hội có mức tăng trưởng lợi nhuận bình quân hàng năm (2001 - 2005) đạt 37,97%; Công ty Cổ phần Xây lắp Bưu điện Hà Nội đạt mức tăng trưởng lợi nhuận bình quân 19,42%/năm.
Bên cạnh kết quả trên, tác giả phân tích các mặt hạn chế: tiến độ CPH vẫn chậm so với yêu cầu; quy mô các đơn vị CPH chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ (56,1% có vốn dưới 5 tỷ đồng); việc huy động thêm vốn mới và đa dạng hóa sở hữu còn thấp; tỷ lệ cổ phần bán cho đối tượng ngoài doanh nghiệp còn hạn chế; một bộ phận doanh nghiệp sau CPH chưa thực sự đổi mới phương thức quản trị.
Chƣơng III: Một số cơ chế giải pháp đẩy mạnh tiến trình CPH
Dựa trên quan điểm chỉ đạo của Đảng và thực trạng phân tích, Chương III đề xuất 11 nhóm giải pháp và cơ chế cụ thể nhằm đẩy mạnh tiến trình CPH:
- Nâng cao nhận thức về CPH: Quán triệt tư tưởng của cán bộ quản lý và người lao động, xóa bỏ tư tưởng bao cấp, ỷ lại và tâm lý e ngại mất quyền lợi hoặc mất chức vụ của lãnh đạo doanh nghiệp.
- Kết hợp CPH với hoàn thiện thị trường chứng khoán: Tạo lập kênh huy động vốn dài hạn và tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu thông qua giao dịch tập trung, công khai minh bạch thông tin doanh nghiệp.
- Hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp: Xây dựng quy trình định giá khoa học, tính đúng giá trị thương quyền, uy tín thương hiệu và giá trị thực tế tài sản để tránh thất thoát vốn Nhà nước.
- Giải quyết vướng mắc về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất: Phân tách rõ ràng tiền thuê đất và quyền sử dụng đất trong giá trị doanh nghiệp CPH theo đúng quy định pháp luật.
- Bảo đảm chính sách ưu đãi và quyền tự chủ kinh doanh: Xóa bỏ phân biệt đối xử giữa DNNN và công ty cổ phần, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.
- Giải quyết lao động dôi dư: Tận dụng hiệu quả Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp để chi trả chế độ trợ cấp, đào tạo lại nghề và tạo điều kiện chuyển đổi việc làm cho lao động mất việc.
- Hoàn chỉnh chính sách bán cổ phần cho đối tác nước ngoài: Mở rộng tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài để tiếp thu công nghệ, kỹ năng quản trị và vốn đầu tư quốc tế.
- Cải tiến phương thức phân bổ và bán cổ phiếu: Chuyển đổi từ cơ chế bán khép kín nội bộ sang phương thức đấu giá công khai qua các tổ chức tài chính trung gian và sàn giao dịch.
- Xóa bỏ sự can thiệp của cơ quan quản lý Nhà nước: Chấm dứt sự can thiệp hành chính vào công việc nội bộ và điều hành tác nghiệp của công ty cổ phần.
- Tổng kết và nhân rộng bài học kinh nghiệm: Định kỳ đánh giá mô hình các đơn vị đã CPH thành công để phổ biến quy trình chuẩn cho các đơn vị tiếp theo.
- Thực hiện chính sách khen thưởng và kỷ luật: Biểu dương, khuyến khích các Bộ, địa phương, Tổng công ty 91 hoàn thành vượt mức kế hoạch; xử lý nghiêm lãnh đạo cố tình trì hoãn CPH. Đồng thời, tác giả đề xuất sửa đổi bổ sung các quy định tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 để khắc phục những bất cập thực tiễn và đồng bộ hóa với Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp thực tiễn cụ thể:
- Hệ thống hóa số liệu thực tiễn CPH qua 15 năm (1992 - 2005): Khóa luận tập hợp được hệ thống số liệu chi tiết về số lượng doanh nghiệp (đạt 2.987 đơn vị CPH tính đến hết năm 2005), tốc độ triển khai theo từng thời kỳ, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch của các Bộ, ngành (Bộ Công nghiệp đạt 143%, Bộ Xây dựng đạt 125%, Tổng công ty Dệt May đạt 133%, Tổng công ty Hóa chất đạt 100%) và các địa phương (An Giang 130%, Thanh Hóa 120%, Hải Dương 116%, Vĩnh Phúc 115%).
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội sau CPH bằng dữ kiện thực chứng: Chứng minh tác động tích cực của CPH thông qua các chỉ số tăng trưởng doanh thu (30%), lợi nhuận và nộp ngân sách (tăng gấp đôi), giải quyết việc làm (tăng 20%) và dẫn chứng số liệu kiểm toán cụ thể từ các doanh nghiệp niêm yết (Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khánh Hội và Công ty Cổ phần Xây lắp Bưu điện Hà Nội).
- Đóng góp về mặt giải pháp pháp lý: Khóa luận đóng góp trực tiếp vào yêu cầu sửa đổi khung thể chế khi đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm sửa đổi Nghị định 187/2004/NĐ-CP cho đồng bộ với Luật Doanh nghiệp năm 2005, giải quyết các vướng mắc về thẩm quyền, định giá quyền sử dụng đất và phương thức bán cổ phần ra đại chúng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Tác giả tự nhìn nhận đây là lần đầu tiên tiếp cận thực tế công tác nghiên cứu khoa học, tìm kiếm dữ liệu chuyên ngành và cập nhật nguồn số liệu từ các cơ quan quản lý, do đó kiến thức chuyên môn còn những hạn chế nhất định. Về phạm vi dữ liệu, các bảng số liệu phân loại cơ cấu ngành, cơ cấu vốn và thời gian thực hiện CPH trong văn bản mới dừng lại ở các mốc tổng hợp đến hết năm 2004 và năm 2005, chưa bao quát được đầy đủ kết quả của năm 2006.
- Hướng nghiên cứu mở rộng: Khóa luận gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo về việc đánh giá tác động sâu rộng của Luật Doanh nghiệp năm 2005 khi chính thức có hiệu lực thi hành đối với tiến trình CPH các Tổng công ty 91 và các tập đoàn kinh tế Nhà nước quy mô lớn; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế quản lý phần vốn Nhà nước thông qua mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và tư liệu đối với:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương, Kinh tế Quốc tế và Quản lý Kinh tế: Cung cấp bức tranh toàn cảnh, chân thực về quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, các khái niệm phân loại DNNN và phương pháp luận phân tích chính sách kinh tế.
- Người nghiên cứu về tái cơ cấu doanh nghiệp và thị trường vốn: Cung cấp chuỗi dữ liệu lịch sử về quá trình thí điểm CPH giai đoạn 1992 - 2005, phản ánh quá trình hình thành cơ sở pháp lý ban đầu (từ Quyết định 202/HĐBT đến Nghị định 187/2004/NĐ-CP). Phần phân tích thực trạng tài chính DNNN trước CPH và kinh nghiệm CPH của Trung Quốc là nguồn tài liệu hữu ích cho các đề tài so sánh chính sách kinh tế chuyển đổi.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước có sự thay đổi căn bản như thế nào giữa Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 theo phân tích trong khóa luận?
Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước ngày 30/03/1995, DNNN được định nghĩa là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư 100% vốn, thành lập và tổ chức quản lý. Đến Luật Doanh nghiệp năm 2005, khái niệm này được sửa đổi cho phù hợp với kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập: DNNN là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
2. Giai đoạn thí điểm CPH (1992 - tháng 5/1996) đã hoàn thành CPH bao nhiêu đơn vị và gồm những doanh nghiệp cụ thể nào?
Giai đoạn thí điểm kéo dài gần 5 năm và chỉ hoàn thành CPH tại 5 doanh nghiệp thuộc 3 Bộ và 2 địa phương: Công ty Cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (Bộ Giao thông Vận tải), Công ty Cổ phần Giày Hiệp An (Bộ Công nghiệp), Công ty Cổ phần Chế biến thức ăn gia súc (Bộ Nông nghiệp), Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (UBND TP. Hồ Chí Minh) và Công ty Cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Long An (UBND tỉnh Long An).
3. Số lượng DNNN đã hoàn thành CPH tính đến hết năm 2005 là bao nhiêu và tập trung ở quy mô vốn nào?
Tính đến hết năm 2005, cả nước đã hoàn thành CPH 2.987 DNNN và bộ phận DNNN (trong đó giai đoạn 2001 - 2005 CPH được 2.407 đơn vị). Về quy mô vốn, các doanh nghiệp có vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng chiếm tỷ trọng áp đảo với 56,1%; doanh nghiệp có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng chiếm 24,4%; và doanh nghiệp có quy mô vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 19,5%.
4. Dữ liệu khảo sát trên 370 doanh nghiệp sau CPH của Ban Đổi mới Quản lý Doanh nghiệp Trung ương chỉ ra những chỉ số tăng trưởng kinh tế nào?
Báo cáo ghi nhận: doanh thu bình quân của các doanh nghiệp tăng 30% so với trước khi chuyển đổi; lợi nhuận và mức nộp ngân sách bình quân đều tăng gấp 2 lần; quy mô vốn tăng trưởng bình quân khoảng 15%/năm; thu nhập của người lao động tăng từ 1,5 đến 4 lần; số lượng việc làm tăng khoảng 20% và toàn bộ khối doanh nghiệp này đã huy động được trên 1.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi từ các nguồn xã hội.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đỗ Đức Kiên là một công trình nghiên cứu hệ thống về tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam suốt giai đoạn lịch sử 15 năm (1992 - 2005). Tác giả đã tổng hợp nguồn tư liệu và số liệu thứ cấp đáng tin cậy từ các cơ quan quản lý Trung ương, phản ánh chân thực các bước chuyển biến thể chế, thành tựu về tăng trưởng và những rào cản nội tại của quá trình chuyển đổi. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận, đặc biệt là kiến nghị sửa đổi Nghị định 187/2004/NĐ-CP để tương thích với Luật Doanh nghiệp năm 2005, có giá trị đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong thời kỳ đầu Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.