Chương 1: Tổng quan về Hiệp định thương mại tự do - FTA - Chương 2: Hiệp định thương mại tự do EVFTA và ảnh hưởng của Hiệp định đối với quan hệ thương mại Việt Nam - EU - Chương 3: Các giải pháp đề xuất nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – EU trong thời gian tới 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO - FTA 1. Khái niệm Hiệp định thƣơng mại tự do (FTA) 1. Định nghĩa Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement gọi tắt là FTA) là văn bản ghi nhận sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều chủ thể luật quốc tế về việc thực hiện chính sách thương mại tự do. Thương mại tự do là nền thương mại quốc tế trong đó các hoạt động thương mại diễn ra mà không vấp phải bất kỳ hàng rào cản trở nào như thuế quan, hạn ngạch hoặc các biện pháp kiểm soát hối đoái được đặt ra để cản trở sự di chuyển tự do của hàng hóa và dịch vụ giữa các nước.
Chính sách thương mại tự do là một hình thức của chính sách thương mại quốc tế, trong đó Chính phủ nước chủ nhà không phân biệt hàng hoá nước ngoài với hàng hoá nội địa trên thị trường nước mình, do đó không thực hiện các biện pháp cản trở hàng hoá nước ngoài xâm nhập thị trường nước mình. Trên thực tế có một số quan niệm khác nhau về FTA. Cụ thể: - Khái niệm truyền thống về FTA: Quan điểm về một Khu vực thương mại tự do (Free Trade Area) lần đầu tiên được đưa ra tại GATT 1947 trong Điều XXIV - điểm 8b như sau: “Một Khu vực Thương mại tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuế quan trong đó thuế và các quy định thương mại khác sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các mặt hàng có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ thuế quan đó.” Ngoài ra tại điều XXIV-khoản 5 của hiệp định này cũng đã nêu rõ: “khu vực mậu dịch tự do được hình thành thông qua một hiệp định quá độ [interim agreement]”. Như vậy có thể thấy GATT 1947 mới chỉ nêu ra khái niệm về Khu vực Thương mại tự do tuy nhiên khi phân tích khái niệm này ta có thể thấy được tư tưởng của GATT về Hiệp định Thương mại tự do.
Trong khái niệm này có những điểm chú ý: + Thứ nhất, trong một Khu vực Thương mại tự do thì các nước thành viên cam kết giảm thuế và các quy định thương mại khác. 7 + Thứ hai, đối tượng cắt giảm thuế và giảm các quy định thương mại khác là với các mặt hàng có xuất xứ từ các nước thành viên trong Khu vực Thương mại tự do. + Thứ ba, khái niệm này cho thấy GATT mới chủ yếu quan tâm đến thương mại hàng hóa. Đây cũng là điều dễ hiểu vì theo tiến trình lịch sử, quan hệ thương mại giữa các nước thời kỳ này chủ yếu tập trung vào trao đổi mua bán hàng hóa hữu hình.
Qua đó có thể thấy quan niệm truyền thống về FTA mới chỉ dừng lại ở phạm vi thương mại hàng hóa hữu hình và mức độ cam kết tự do hóa mới chỉ dừng ở cắt giảm thuế quan và giảm thiểu một số quy định thương mại khác. - Quan niệm hiện đại về FTA: Ngày nay, FTA hiện đại hay FTA thế hệ mới thường đi xa hơn phạm vi loại bỏ thuế quan, hàng rào phi thuế quan và bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn cả cam kết trong khuôn khổ GATT/WTO cũng như một loạt vấn đề thương mại mới mà WTO chưa có quy định. Phạm vi cam kết của các FTA thế hệ mới còn bao gồm những lĩnh vực như thuận lợi hóa thương mại, sở hữu trí tuệ, hợp tác hải quan, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, lao động, môi trường, thậm chí còn gắn với những vấn đề như dân chủ hay chống khủng bố… Khái niệm FTA được sử dụng rộng rãi ngày nay không còn được hiểu trong phạm vi hạn hẹp của những thỏa thuận hội nhập khu vực và song phương có cấp độ liên kết kinh tế “nông” của giai đoạn trước, mà đã được dùng để chỉ các thỏa thuận hội nhập kinh tế “sâu” giữa hai hay một nhóm nước với nhau. Ngoài ra trong một số trường hợp Hiệp định thương mại tự do có thể được gọi dưới một số tên gọi khác nhau như EPA (Hiệp định đối tác kinh tế) nhưng về bản chất vẫn không thay đổi.
Đặc điểm - Thúc đẩy việc mở rộng xuất khẩu qua việc bãi bỏ thuế xuất khẩu hoặc thực hiện các biện pháp khuyến khích khác. - Mở rộng thị trường nội địa cho hàng hoá nước ngoài tự do xâm nhập thông qua việc xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan. 8 - Các hiệp định thương mại có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Singapore. Phân loại các FTA Tùy vào mục đích nghiên cứu khác nhau các tổ chức, các nhà kinh tế lại dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân loại các Hiệp định Thương mại tự do (FTA), tuy nhiên có hai cách phân loại phổ biến nhất, đó là phân loại dựa vào quy mô, số lượng các thành viên tham gia và phân loại dựa vào mức độ tự do hóa.
Căn cứ theo quy mô, số lượng thành viên tham gia Nếu căn cứ theo quy mô, số lượng các thành viên tham gia thì FTA được chia thành FTA song phương (BFTA), FTA khu vực, FTA hỗn hợp và FTA đa phương. BFTA là loại FTA chỉ có hai nước tham gia ký kết, và hiệp định này cũng chỉ có giá trị ràng buộc đối với hai quốc gia này mà thôi. Do chỉ gồm 2 thành viên nên quá trình đàm phán và việc đạt được thỏa thuận BFTA cũng trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn so với các loại FTA khác. Trong làn sóng ký kết FTA toàn cầu hiện nay thì BFTA là loại FTA được ký kết nhiều nhất, phát triển mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng cam kết.
FTA khu vực là Hiệp định Thương mại tự do có sự tham gia của từ ba nước thành viên trở lên, thông thường các nước này có vị trí địa lý gần nhau. Những nước này tham gia FTA khu vực thường với mục đích tận dụng ưu thế về vị trí địa lý để tăng cường trao đổi thương mại, thắt chặt mối quan hệ láng giềng cũng như nâng cao vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Một số FTA khu vực điển hình nhất đó là Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA). FTA hỗn hợp là FTA được ký kết giữa một khu vực tự do thương mại (FTA khu vực) với một nước, một số nước hoặc một khu vực tự do thương mại khác.
Bất chấp sự phức tạp trong việc đàm phán, hiện nay loại FTA này cũng đang phát triển và tăng lên nhanh chóng về mặt số lượng. Một số FTA hỗn hợp điển hình như: FTA EU – Canada (CETA), FTA ASEAN – Nhật Bản (AJFTA), FTA ASEAN- Australia-New Zealand (AANZFTA), FTA EU – MERCOSUR, … 9 FTA đa phương là Hiệp định Thương mại tự do được ký kết giữa nhiều quốc gia khác nhau, không nhất thiết phải có vị trí địa lý gần nhau như FTA khu vực, ví dụ: CPTPP. Căn cứ vào mức độ tự do hóa Đây là cách phân loại được Ngân hàng Thế giới (WB) sử dụng. FTA theo tiêu chí này được chia thành FTA kiểu Mỹ, FTA kiểu châu Âu và FTA kiểu các nước đang phát triển.
FTA kiểu Mỹ là loại FTA có mức độ tự do hóa cao nhất, đòi hỏi các nước thành viên phải mở cửa tất cả các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ. Một khi đã tham gia các FTA kiểu này thì chỉ có con đường là mở cửa thị trường hơn nữa hoặc giảm thiểu nhiều rào cản thương mại hơn nữa, chứ việc thay đổi hiệp định hoặc việc đảo ngược lại các điều khoản trong hiệp định là rất khó khăn. Trong hiệp định này áp dụng quy chế MFN và NT và tất cả các ngành đều phải mở cửa, trừ khi các bên có quy định khác và phải được ghi rõ trong hiệp định. Điều này khiến người ta cho rằng FTA kiểu Mỹ có xu hướng làm giảm sự tham gia của chính phủ trong việc bảo vệ môi trường sinh thái hoặc các ngành dịch vụ công.
Ví dụ về FTA kiểu Mỹ điển hình là Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Xếp thứ hai sau Mỹ là FTA kiểu châu Âu. Đây cũng là dạng FTA có mức độ tự do hóa khá cao, thậm chí gần bằng FTA kiểu Mỹ. Điểm khác biệt của 2 loại FTA này là FTA kiểu châu Âu chỉ quy định mở cửa những lĩnh vực mà các nước cam kết hoặc thống nhất riêng với nhau.
Ví dụ điển hình của FTA kiểu này là cam kết về tự do hóa thương mại của Liên minh châu Âu (EU). Trong cam kết tự do hóa thương mại, các nước EU đã không đưa vào lĩnh vực nông nghiệp - lĩnh vực vốn rất nhạy cảm và được hầu hết các nước thành viên EU bảo hộ. Các thành viên EU đều có những chính sách nông nghiệp riêng phù hợp điều chỉnh với những đặc thù của ngành nông nghiệp nước mình. Việc đưa nông nghiệp vào FTA sẽ làm ảnh hưởng lớn đến nền an ninh lương thực của các quốc gia cũng như đời sống của những người làm nông nghiệp mỗi nước.
Xét về mức độ tự do hoá thì FTA kiểu các nước đang phát triển kém hơn hẳn so với hai dạng FTA ở trên. FTA kiểu này thường chú trọng nhiều hơn đến tự do hóa thương mại hàng hóa và ít khi bao gồm các điều khoản quy định mở cửa cho 10 nhau trong các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) là những ví dụ điển hình cho kiểu FTA này. Có thể nói trong khi FTA kiểu Mỹ được xem là hội nhập một cách sâu rộng nhất thì FTA kiểu các nước đang phát triển được xem là mang lại ít ảnh hưởng nhất.
Nội dung chính trong các Hiệp định FTA 1. Tự do hóa thương mại hàng hóa Về thuế và các rào cản thương mại phi thuế: Nội dung phổ biến nhất trong các FTA đó là cam kết dỡ bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế đối với hàng hóa.