CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ lý giải việc chọn đề tài nghiên cứu “Ứng dụng mô hình SMART để dự báo tác động của Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu đến xuất khẩu nông sản Việt Nam”. Bên cạnh đó, tác giả sẽ đặt những câu hỏi nghiên cứu, tổng hợp những nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước trước đây, giới thiệu đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.1 Tính cấp thiết của đề tài Liên minh châu Âu (EU) là một trong những đối tác thương mại lớn trong nhiều lĩnh vực, hỗ trợ tích cực cho quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Năm 2018, EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 42 tỷ USD, tăng 10% so với năm trước đó. Trong vòng 8 năm từ 2010-2018, xuất khẩu sang thị trường này ghi nhận mức tăng trưởng trung bình năm trên 14%, chỉ sau Hoa Kỳ.
Trong quan hệ thương mại với EU, Việt Nam đạt mức thặng dư lên đến gần 28 tỷ USD vào năm 2018 và duy trì thặng dư trung bình giai đoạn 2010-2018 ở mức 19 tỷ USD, theo số liệu từ Tổng cục Hải quan. Quan hệ giữa Việt Nam – EU trong thời gian gần đây cũng được cải thiện đáng kể, trong cả hoạt động đầu tư và giá trị thương mại xuất nhập khẩu.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – EU giai đoạn 2010-2018 Đơn vị tính: Tỷ USD 2018 13,89 41,88 12,2 2017 38,1 11,1 2016 34,0 2015 10,4 30,9 2014 8,9 Nhập khẩu 27,9 2013 9,5 Xuất khẩu 24,3 2012 8,8 20,3 2011 7,8 16,6 2010 6,4 11,3 0 10 20 30 40 50 Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Tổng cục Hải quan 2 Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan năm 2018, các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam tại khu vực EU với kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD bao gồm: Hà Lan (7,07 tỷ USD), Đức (6,87 tỷ USD), Anh (5,78 tỷ USD), Áo (4,07 tỷ USD); Pháp (3,76 tỷ USD), Italia (2,9 tỷ USD), Tây Ban Nha (2,63 tỷ USD) và Bỉ (2,41 tỷ USD). Các thị trường này chiếm trên 70% tổng thương mại với toàn khối. Các mặt hàng chủ lực xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU không thay đổi nhiều trong những năm qua, chủ yếu vẫn tập trung ở nhóm các mặt hàng: điện thoại các loại và linh kiện (13,11 tỷ USD); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (5 tỷ USD); giày dép các loại (4,7 tỷ USD); hàng dệt may (3,33 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác (2 tỷ USD); hàng thủy sản (1,4 tỷ USD); cà phê (1,34 tỷ USD), theo số liệu thống kê năm 2018.
Nhận thấy vai trò của quan hệ thương mại đối với sự phát triển kinh tế, hai bên đã chính thức khởi động phiên đàm phán đầu tiên về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFFA) vào tháng 10/2012. Trải qua hơn ba năm với 14 vòng đàm phán chính thức, vào ngày 30/06/2019, hai bên hai bên đã chính thức ký kết EVFTA, mở ra cơ hội hợp tác toàn diện về thương mại của cả Việt Nam và EU. Nông sản được xem là một trong những ngành hàng xuất khẩu chính của Việt Nam với giá trị xuất khẩu trên 18 tỷ USD năm 2018, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu lớn như cà phê, hạt điều, cao su, rau quả,… Những năm gần đây, nông sản Việt Nam mặc dù đã xuất khẩu đi nhiều nước trong khu vực và thế giới, nhưng vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thị trường Trung Quốc, với tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu khoảng 35% tương đương với 5,6 tỷ USD, theo thống kê năm 2018. ASEAN là thị trường xuất khẩu nông sản lớn thứ hai với kim ngạch 3,03 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 20%.
Hiệp định EVFTA đã hoàn thành quá trình phê chuẩn nội bộ ở EU và Việt Nam, và đã có hiệu lực vào ngày 01/08/2020. Theo ý kiến nhận định của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, EVFTA sẽ giúp mở ra cơ hội rất lớn để gia tăng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang EU. Nông sản cũng sẽ được hưởng lợi một phần từ 3 hiệp định này khi thuế quan được xoá bỏ hoàn toàn. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo EVFTA giúp mở rộng hơn nữa thị trường xuất khẩu những sản phẩm mà ta có thế mạnh như nông sản (kể cả gạo, đường, mật ong, rau, củ, quả,.), tạo điều kiện cho nông sản Việt Nam tiếp cận với thị trường 28 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu.
Từ đó, nông sản Việt Nam có thể mở rộng thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc và Đông Nam Á. Để đánh giá cụ thể mức độ tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU đến sự thay đổi giá trị xuất khẩu từng mặt hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường EU, tác giả lựa chọn đề tài: “Ứng dụng mô hình SMART để dự báo tác động của Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu đến xuất khẩu nông sản Việt Nam”.2 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu trong nước Vo Thanh Thu và cộng sự (2018) sử dụng mô hình SMART để xác định sự thay đổi của xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam cũng như dự đoán một số sản phẩm bị ảnh hưởng nhất nếu Hiệp định EVFTA có hiệu lực. Bài nghiên cứu phân tích số liệu xuất khẩu của các mã HS 61,62 với năm gốc là 2016. Kết quả cho thấy, hàng may mặc của Việt Nam xuất khẩu sang Liên minh châu Âu sẽ tăng đáng kể 42% so với năm cơ sở (2016) và dự kiến sẽ đạt 4.220 tỷ USD trong 8 năm tới.
Chuyển hướng thương mại chiếm ưu thế so với tạo lập thương mại, hàng may mặc của Việt Nam sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn so với việc không có EVFTA. Tuy nhiên, kết quả này sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực. Do đó, các nhà hoạch định chính sách nên thực hiện một số biện pháp để cải thiện khả năng cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam, để giảm giá sản xuất nhằm mang lại lợi thế cho cả Việt Nam và Châu Âu. Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU sẽ tăng 42% so với năm 2016, đạt 4.220 tỷ USD vào năm 2026.
Cụ thể, gần 50% mức tăng là các nhóm HS 6104, 6109, 6110 và 6201, 6202, 6203, 6204. 4 Vu Thanh Huong và cộng sự (2017) dùng mô hình SMART để đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đến nhập khẩu ô tô từ EU vào Việt Nam bằng mô hình SMART theo hai kịch bản. Kịch bản thứ nhất, Việt Nam bãi bỏ thuế nhập khẩu ô tô từ EU mà không xem xét đến các Hiệp định FTA khác của Việt Nam. Kịch bản thứ hai,Việt Nam sẽ bãi bỏ thuế nhập khẩu ô tô từ EU và ASEAN+3 (các nước ASEAN và Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản).
Kết quả cho thấy rằng Hiệp định EVFTA làm gia tăng đáng kể lượng ô tô nhập khẩu từ EU vào Việt Nam, EU vẫn là nguồn cung cấp ô tô lớn nhất của Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, khi Việt Nam bãi bỏ thuế quan nhập khẩu cho cả các nước ASEAN+3, lượng ô tô nhập khẩu từ EU sẽ giảm xuống đáng kể. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng chỉ ra có sự gia tăng không đồng đều giữa các quốc gia, các nhóm ô tô và các sản phẩm ô tô khi hiệp định EVFTA có hiệu lực. Trong cả hai kịch bản, tác động hiệu ứng tạo lập thương mại cao hơn chuyển hướng mậu dịch.
Vì thế, hiệp định EVFTA có thể làm gia tăng phúc lợi xã hội của Việt Nam. Dựa trên kết quả này, bài nghiên cứu đã đưa ra một số hàm ý cho chính phủ và các doanh nghiệp trong nước nhằm chuẩn bị tốt hơn để đón đầu hiệp định EVFTA. Ở kịch bản thứ nhất, nhập khẩu từ EU sẽ tăng 63,67% so với năm cơ sở, tương đương với 94,47 triệu đô. Ở kịch bản thứ hai, nhập khẩu sẽ tăng 42,22%, tương đương với 62,63 triệu đô.
Đó là bởi vì Việt Nam cũng đồng thời xoá bỏ thuế quan cho các nước ASEAN+3 nên giá ô tô từ các nước này so với giá ô tô nhập từ EU sẽ thấp hơn, Việt Nam sẽ chuyển một phần sang nhập khẩu ô tô từ EU. Trong cả hai kịch bản, Đức và Anh có lợi nhiều nhất khi thuế quan thay đổi, chiếm hơn 80% tổng lượng nhập khẩu gia tăng của Việt Nam từ EU, hơn 97% sự gia tăng nhập khẩu là của nhóm HS 8703, chiếm 92,5 triệu đô ở kịch bản 1 và hơn 60 triệu đô ở kịch bản 2. Mã HS 870323 sẽ gia tăng nhập khẩu lớn nhất với hơn 60% tổng lượng gia tăng nhập khẩu ô tô từ EU ở kịch bản 1 và hơn 55% ở kịch bản 2. Việt Nam sẽ chuyển dần sang nhập khẩu từ Nhật Bản và Hàn Quốc đối với các loại ô tô thuộc nhóm HS 870323 khi Việt Nam cắt bỏ thuế quan cho cả EU và ASEAN+3.
Các mã HS 870324 và 870333 lần lượt là nhóm ô tô đứng thứ hai và ba trong sự gia tăng 5 nhập khẩu. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng chỉ ra có sự gia tăng không đồng đều giữa các quốc gia, các nhóm ô tô và các sản phẩm ô tô khi hiệp định EVFTA có hiệu lực. Trong cả hai kịch bản, tác động hiệu ứng tạo lập thương mại cao hơn chuyển hướng mậu dịch. Vì thế, hiệp định EVFTA có thể làm gia tăng phúc lợi xã hội của Việt Nam.
Dựa trên kết quả này, bài nghiên cứu đã đưa ra một số hàm ý cho chính phủ và các doanh nghiệp trong nước nhằm chuẩn bị tốt hơn để đón đầu hiệp định EVFTA. Vu Thanh Huong (2016) sử dụng mô hình SMART để đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đến việc nhập khẩu dược phẩm từ EU vào Việt Nam khi xoá bỏ thuế quan nhập khẩu theo hai kịch bản. Kịch bản thứ nhất là Việt Nam sẽ chỉ loại bỏ thuế nhập khẩu dược phẩm từ các quốc gia EU theo lộ trình 2018-2028. Quá trình hội nhập khác của Việt Nam trong lĩnh vực dược phẩm với phần còn lại của thế giới không được xem xét.
Kịch bản thứ hai là Việt Nam sẽ loại bỏ thuế nhập khẩu dược phẩm từ các quốc qia EU theo lộ trình 2018-2028, đồng thời, cũng sẽ loại bỏ thuế nhập khẩu cho các quốc gia tham gia TPP từ 2018 đến 2028 và cho các quốc gia ASEAN+3 trước năm 2028.