phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục bảng, biểu, bản đồ, ảnh minh họa, luận văn gồm ba phần, đƣợc kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về làng nghề Ở chƣơng này, tác giả khảo cứu và đề xuất những khái niệm và các tiêu chí phân loại làng nghề bằng việc đƣa ra quan điểm của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu, trên cơ sở đó đúc rút khái niệm chung nhất, tổng quát nhất về làng nghề, LNTT. Đồng thời, trong chƣơng này, tác giả cũng phân tích về đặc điểm, điều kiện hình thành LNTT; vai trò của LNTT đối với phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển của làng nghề mộc Chàng Sơn trong bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội hiện nay. Chàng Sơn là một làng nhiều nghề, trong đó nổi trội là nghề mộc với những nghệ nhân tài hoa.
Tác giả đã chỉ ra thực trạng phát triển nghề mộc hiện nay, những ảnh hƣởng của nghề mộc làng Chàng đến đời sống văn hóa sản xuất, đời sống văn hóa cộng đồng, trong đó chú trọng đến thực trạng phát triển cũng nhƣ tổ chức quản lý của địa phƣơng; chỉ ra mối quan hệ tƣơng tác giữa nghề mộc với các nghề khác và mối liên hệ giữa nghề mộc với văn hóa, tín ngƣỡng của làng. Đặc biệt, trong chƣơng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này, tác giả đã áp dụng có hệ thống phƣơng pháp phân tích SWOT để đánh giá những thuận lợi, khó khăn và chỉ ra cơ hội phát triển của làng nghề Chàng Sơn. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nghề và nâng cao giá trị văn hóa làng nghề tại làng mộc Chàng Sơn Trong phần này, tác giả đƣa ra những đề xuất, kiến nghị và các giải pháp cơ bản để phát triển nghề truyền thống của làng, đƣa nghề mộc truyền thống hồi sinh, phát triển trong cơ chế thị trƣờng hiện nay theo hƣớng bền vững, gắn với việc giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa làng nghề trong giai đoạn phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội hiện nay. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ 1.
Một số khái niệm và cách phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống 1. Nghề truyền thống Nghề truyền thống là những nghề thủ công5 đƣợc hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài, tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, đƣợc sản xuất tập trung, thu hút đƣợc nhiều lao động tham gia sản xuất và dần hình thành các làng nghề, phố nghề, xã nghề. Đặc trƣng cơ bản gắn với kỹ thuật và công nghệ truyền thống, sản phẩm có tính đơn chiếc, tính thẩm mỹ cao và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Điều đặc biệt là linh hồn của nghề, của làng nghề nằm trong yếu tố con ngƣời, đó là những nghệ nhân và đội ngũ lao động lành nghề. Khi nền đại công nghiệp phát triển thì việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào trong sản xuất đã dần thay thế sức lao động trong một số công đoạn nhất định, điều đó phá vỡ tính truyền thống cố hữu trong sản xuất nghề truyền thống, do đó quan điểm ban đầu cũng có những thay đổi nhất định. Nghề truyền thống có thể đƣợc hiểu theo nghĩa mở rộng hơn nhƣ sau: Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc đang sử dụng những loại máy móc hiện đại hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. 5 Nghề thủ công đƣợc phân chia thành 02 bộ phận: Nghề thủ công gắn liền với nông nghiệp và thủ công nghiệp cá thể tiểu sản xuất hàng hóa (sản xuất độc lập với quy trình sản xuất nông nghiệp): “Thủ công nghiệp là từ nông nghiệp mà ra và có thể nói, thủ công nghiệp là nền sản xuất trung gian giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Vì là trung gian nên nó còn mang nặng tính chất nông nghiệp mà đồng thời cũng đã có nhiều tính chất công nghiệp… Phạm vi thủ công nghiệp đi từ những nghề phụ nông thôn đến các nghề thủ công cá thể tiểu sản xuất hàng hóa rồi đến hình thức công trƣờng thủ công tƣ bản chủ nghĩa là hình thức còn nhiều quan hệ với nông nghiệp đến hình thức quá độ sang công nghiệp. Chúng tôi thấy ở Việt Nam có hai bộ phận chính trong ngành thủ công nghiệp: Bộ phận thủ công nghiệp phụ thuộc vào nền kinh tế tự nhiên nông nghiệp, cụ thể là nghề phụ gia đình của số đông nông dân… Bộ phận thứ hai là bộ phận thủ công nghiệp cá thể tiểu sản xuất hàng hóa, cụ thể là nghề thủ công độc lập với quy trình sản xuất nông nghiệp” [5, tr.17-20] 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Làng nghề Làng nghề là một phƣơng diện mà rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đã có nhiều quan điểm về làng nghề đƣợc xây dựng trên những tiêu chí khác nhau, tuy nhiên cho đến nay chƣa có một định nghĩa chính thức, làm quy chuẩn về làng nghề. Phạm Côn Sơn thì: “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cƣ đông ngƣời, sinh hoạt có tổ chức, kỷ cƣơng, tập quán riêng theo nghĩa rộng.
Làng nghề không có nghĩa là một làng sống chuyên nghề mà còn hàm ý là những ngƣời cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của làng nghề là sự làm ăn vừa tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và cá biệt của địa phƣơng” [56, tr. Trần Quốc Vượng thì: “làng nghề (nhƣ gốm Bát Tràng, Phù Lãng,… làng thêu ren Quất Động) là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối tiểu thủ nông và chăn nuôi (lợn, gà.) một số nghề phụ khác (đan lát, thêu…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ƣ nghệ, tử ƣ nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trƣờng là vùng rộng xung quanh với thị trƣờng đô thị, thủ đô (kẻ chợ, Huế, Sài Gòn.) và tiến tới mở rộng ra cả nƣớc rồi có thể xuất khẩu ra nƣớc ngoài” [83, tr.372] Theo định nghĩa của nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công.
Ngƣời thợ thủ công trong nhiều trƣờng hợp cũng đồng thời là những ngƣời làm nghề nông (nông dân). Nhƣng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những ngƣời thợ chuyên sản xuất hàng thủ công ngay tại làng quê của mình” [84, tr.13] Từ một số định nghĩa nêu trên của các học giả, các nhà nghiên cứu, chúng tôi đƣa ra quan điểm về làng nghề mang tính tổng hợp nhƣ sau: 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Làng nghề là thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, gồm hai yếu tố cấu thành là làng và nghề. Xã hội nông thôn Việt Nam từ xưa tới nay, làng là một tế bào của xã hội người Việt. Nó là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng.
Đó là một địa vực, một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất hay nói cách khác, nó tồn tại trong không gian địa lý nhất định [50, tr. Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nƣớc ta đƣợc hình thành và phát triển do nhu cầu phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam với những đặc trƣng của nền văn hóa lúa nƣớc và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc. Xét về mặt định lƣợng, làng nghề là những làng mà ở đó số ngƣời chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng. Tiêu chí phân định cụ thể nhƣ sau: Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công từ 40 – 50%6; Thu nhập từ nghề thủ công chiếm 50% tổng thu nhập của các hộ; giá trị sản lƣợng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lƣợng của địa phƣơng [50, tr.13-14] Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ là một thƣớc đo định lƣợng, bởi vì đối với mỗi làng nghề khác nhau thì tỷ lệ nói trên là cũng khác nhau.
Điều đó thể hiện rõ ở quy mô sản xuất, tính chất của sản phẩm và số lƣợng ngƣời tham gia giữa làng nghề phát triển và làng nghề chậm phát triển. Trong thời kỳ CNH – HĐH hiện nay, việc phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ vào trong sản xuất đã phá vỡ tính thủ công truyền thống nhất thể trong sản xuất, thay vào đó là hình thức sản xuất bán cơ khí phổ biến. Chính vì vậy khái niệm về làng nghề đƣợc mở rộng hơn, không còn bó hẹp ở những làng chỉ có những ngƣời chuyên làm các nghề thủ công nghiệp. Nó đƣợc nhìn nhận dƣới hai giác độ: 6 Tại khoản a, điểm 2, mục I, phần II của Thông tƣ số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì 01 trong 03 tiêu chí để công nhận làng nghề là “có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn” [9] 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những làng nghề đã áp dụng công nghệ cơ khí, bán cơ khí vào trong sản xuất và những làng nghề phát triển sản xuất ở mức độ cao đã kéo theo nhiều nghề dịch vụ ăn theo nhằm phục vụ nó nhƣ nghề cung ứng vật tƣ… Nhƣ vậy, khái niệm làng nghề có thể hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông.
Làng nghề truyền thống Làng nghề truyền thống đƣợc hiểu là sự kết hợp giữa nghề truyền thống và làng nghề.