LỜI MỞ ĐẦU Năm 1986, Việt Nam thực hiện Đổi Mới với mục tiêu hướng tới những cải cách nền kinh tế, hơn nữa cổ phần hóa DN từ sau 1992 đã làm biến động cấu trúc sở hữu của đại bộ phận DN trong nền kinh tế. Mục tiêu cổ phần hóa DN Nhà nước hay nói cách khác là bán vốn nhà nước cho tư nhân nhằm mục đích thay đổi cấu trúc sở hữu DN, cải thiện hiệu quả hoạt động thông qua thay đổi cấu trúc quản trị DN. Tính cho tới thời điểm cuối năm 2019, đã có 758610 công ty trong nước đang hoạt động với nhiều loại hình khác nhau bao gồm: DN nhà nước, DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tỷ trọng đóng góp của cả sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài là hơn một nửa tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong các những 2000, 2006 và 2012.
Như vậy, sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. CĐL là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành (Theo luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán 2020) có ảnh hưởng đáng kể tới kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Các cổ đông này có các quyền nhất định về thông tin như xem xét, tra cứu, trích lục một số tài liệu, có quyền triệu tập cuộc họp cổ đông để đánh giá các hành động của Hội đồng Quản trị hoặc những người quản lý khác của công ty, có quyền yêu cầu Ban Kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết (Luật Chứng khoán 2019). Cụ thể, CĐL có thể là nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân trong nước và ngoài nước có ảnh hưởng lớn đến công ty bằng các quyền biểu quyết được trao nhờ cổ phần mà họ nắm giữ.
Họ có thể có các quyết định mang tính chiến lược, bao gồm khả năng đầu tư khôn ngoan và giúp DN gia tăng kết quả hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, một số quyết định của CĐL có thể trở thành một vấn đề nan giải đối với các công ty, bởi các quyết định đó có thể mang lại các ảnh hưởng tiêu cực cho DN. Do đó CĐL có thể có tác động tích cực, tiêu cực và không tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN. Có nhiều nghiên cứu tại các nước ngoài nhằm phân tích ảnh hưởng của sở hữu CĐL tới kết quả hoạt động kinh doanh của DN.
De Miguel và cộng sự (2004) đã nhận thấy mối tương quan hình chữ U ngược giữa sở hữu của CĐL tới khả năng sinh lời của DN. Hơn nữa, Liu và cộng sự (2012) cũng đã tìm ra mối tương quan hình chữ U khi xem xét về mối 2 quan hệ của sở hữu là CĐL đến kết quả kinh doanh. Ở Việt Nam các nghiên cứu về sự tác động của sở hữu là CĐL tới kết quả hoạt động kinh doanh của DN chưa có sự phân chia cụ thể về các nhóm CĐL, bởi mỗi nhóm có thể có những tác động khác nhau đến kết quả kinh doanh của DN. Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu một cách có hệ thống về ảnh hưởng của CĐL là NĐT nước ngoài, trong nước và nhà nước đối với kết quả hoạt động kinh doanh của DN ở Việt Nam.
Nghiên cứu này không chỉ xem xét ảnh hưởng giữa CĐL và hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN mà còn là nghiên cứu đầu tiên xem xét cụ thể về từng nhóm CĐL gồm: nhà nước, tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài. Bằng cách sử phương pháp Fix Effect và phương pháp hồi quy GMM dựa trên khoảng 400 DN niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong từ 2010 - 2020, kết quả thực nghiệm cho thấy những DN có sở hữu Nhà nước cao và sở hữu cá nhân nước ngoài lớn sẽ làm giảm khả năng sinh lời của DN. Tuy nhiên, sở hữu của tổ chức có ảnh hưởng cùng chiều đến kết quả kinh doanh của DN. Hơn nữa, CĐL trong nước và nước ngoài cũng có tác động tích cực tới khả năng sinh lời của DN.
Bài viết bổ sung minh chứng chính sách khuyến nghị giảm sở hữu nhà nước và sở hữu cá nhân, đồng thời tăng sở hữu nước ngoài. Bài nghiên cứu được trình bày như sau: Phần 1 diễn tả tổng quan của nghiên cứu về tác động của sở hữu của CĐL dối với hoạt động của công ty. Phần 2 tác giả đưa ra các giả thuyết về mối quan hệ giữa sở hữu của CĐL và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phần 3 đưa ra các phương pháp nghiên cứu, dữ liệu và các thước đo giá trị trong khi kết quả được thảo luận ở phần 4.
Phần 5 tổng kết bài nghiên cứu và đưa ra một số khuyến nghị. Tổng quan nghiên cứu. Mối quan hệ giữa cổ đông lớn và kết quả hoạt động kinh doanh CĐL theo quy định là những người nắm giữ từ 5% số cổ phần có quyền biểu quyết của DN (Luật Chứng khoán 2019). Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét đến việc tổng số cổ phần mà các CĐL nắm giữ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của các công ty mà họ sở hữu.
Các nghiên cứu về sự kiện cũng đưa ra kết quả không rõ ràng giữa CĐL và khả năng sinh lời của DN (Holderness, 2003). Holderness và Sheehan (1988) đã kiểm tra tác động của CĐL đến kết quả hoạt động kinh doanh của DN 3 trên 114 công ty ở SGDCK New York. Kết quả chỉ ra rằng DN có mức sở hữu là CĐL cao sẽ giúp cho hiệu quả kinh doanh của DN được cải thiện. Agrawal và Mandelker (1990) cũng cho thấy mức sở hữu là CĐL có ảnh hưởng tích cực với kết quả kinh doanh của DN.
Nguyen và cộng sự (2015) đã xem xét mối quan hệ giữa CĐL và khả năng sinh lời trên 120 DN niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2011. Kết quả cũng cho thấy khả năng sinh lời được cải thiện rõ rệt khi sở hữu của CĐL tăng lên. Tuy nhiên, một số nghiên cứu về sự kiện đã chỉ ra tác động tiêu cực giữa CĐL và hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN. Slovin & Sushka (1993) đã nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của CĐL đến hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng cách xem xét ảnh hưởng của ban giam đốc.
Cụ thể, hiệu quả hoạt động kinh doanh có tác động tiêu cực đối với cái chết của giám đốc khi giám đốc sở hữu một lượng cổ phần lớn. Do đó, CĐL sở hữu tối thiếu 5% cổ phần có thể có tác động tiêu cực và tích cực tới khả năng sinh lời của DN. Mối quan hệ giữa sở hữu Nhà nước và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sở hữu Nhà nước là hình thức sở hữu mà Nhà nước là người đại diện cho nhân dân quản lý, nắm giữ tư liệu sản xuất, là chủ sở hữu đối với tài sản của công ty.
Trong nền kinh tế hiện nay, Nhà nước có thể tham gia vào nền kinh tế như một NĐT và có thể nắm giữ cổ phần, chi phối tác động trực tiếp đến công tác quản trị của DN. Bên cạnh đó, DN Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà với các tổ chức sinh lợi khác mà chính phủ sở hữu, họ có thể sử dụng để tài trợ ngân sách chung. Sở hữu nhà nước có thể tác động đến khả năng sinh lời của DN nếu có sự không thống nhất giữa mục tiêu của nhà nước với các cổ đông khác. Mục tiêu của các cổ đông là tối đa hóa giá trị tài sản.
Tuy nhiên, sở hữu nhà nước có thể có các mục tiêu khác nhau như mục tiêu về xã hội là để tăng cơ hội việc làm hoặc mục tiêu về chính trị nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của các NĐT nước ngoài và bảo vệ các nhà sản xuất trong nước. Các mục tiêu như vậy không phù hợp với việc tối đa hóa lợi nhuận của DN. Capobianco & Christiansen (2011) chỉ ra rằng rằng ảnh hưởng tiêu cực giữa sở hữu nhà nước và kết quả hoạt động kinh doanh của DN là do sở hữu nhà nước có những mục tiêu khác so với mục tiêu của các chủ sở hữu khác. Bên cạnh đó, Shleifer (1998) cũng đã lập luận rằng sở hữu 4 Nhà nước phải chịu chi phí cao thường là do công tác quản lý DN kém, do đó sở hữu Nhà nước có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN.
Thomsen và Pedersen (2000) đã xem xét tác động của cấu trúc sở hữu đối với khả năng sinh lời của DN được nghiên cứu bằng cách đo lường giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lời trên tài sản. Nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng sở hữu Nhà nước có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của DN. Gunasekarage et al (2007) cũng đã sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 1034 công ty được niêm yết ở Trung Quốc từ năm 2000 đến 2004 và cho thấy ảnh hưởng tiêu cực của sở hữu Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của DN. Ngoài các tác động tiêu cực trên, sở hữu Nhà nước cũng có những ảnh hưởng tích cực để nâng cao kết quả hoạt động của DN.
Firth et al (2008) nhận thấy rằng sở hữu Nhà nước giúp một DN có thể dễ dàng huy động vốn từ các khoản vay ngân hàng. Hơn nữa, DN có sở hữu Nhà nước có thể giúp công ty dễ dàng hơn trong việc giải quyết các chính sách và nhận được sự ưu đãi từ chính phủ. Le và Buck (2011) đã chỉ ra rằng các công ty có thể có được lợi ích từ quyền sở hữu nhà nước thông qua các nhà quản lý giám sát hoặc các NĐT tư nhân. Một số nghiên cứu khác cũng đã phát hiện ra những ảnh hưởng phi tuyến tính của sở hữu Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của DN.
Hoang và cộng sự (2017) nhận thấy mối tương quan hình chữ U ngược giữa kết quả hoạt động kinh doanh của DN và sở hữu Nhà nước khi điều tra ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu trên 76 công ty niêm yết tại Việt Nam. Phung và Mishra (2015) đã kiểm định trên số liệu của 644 công ty niêm yết tại Việt Nam và cũng chỉ ra mối tương quan hình chữ U của sở hữu Nhà nước đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN.