Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CƠ CHẾ BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC 1. Nhận thức về nhân quyền và cơ chế bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền 1. Nhân quyền Ý thức về quyền con người và việc thực hiện quyền con người là một quá trình phát triển lâu dài gắn với lịch sử phát triển của loài người qua các hình thái kinh tế-xã hội cho đến khi quyền con người đã trở thành giá trị chung của nhân loại như ở thời điểm hiện nay. Khái niệm quyền con người có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ dưới dạng các quyền tự nhiên như quyền được sống.
Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người; họ sống với tình trạng vô quyền. Chế độ phong kiến so với chế độ nô lệ đã là một bước tiến trong việc giải phóng con người, tuy nhiên con người dưới chế độ phong kiến vẫn chỉ được coi là “thần dân”. Giai cấp tư sản là lực lượng nêu cao ngọn cờ nhân quyền với các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý, vốn là yêu cầu bức thiết của nhân dân lao động, tuyệt đối hoá tự do cá nhân, nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người. Lần đầu tiên các quyền con người được chính thức ghi trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789.
Tuy vậy, ở thời kỳ đầu, giai cấp tư sản chủ yếu nhấn mạnh các quyền dân sự, chính trị, coi nhẹ quyền kinh tế, văn hoá, xã hội - cơ sở và điều kiện quan trọng để người lao động thoát khỏi đói nghèo và bị bóc lột. Cách mạng tháng 10 Nga đã tạo nên một phạm trù mới về quyền con người: đó là các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, các nước XHCN đã đi đầu trong việc nêu bật các quyền dân tộc cơ bản như bộ phận thiết yếu của các 6 quyền tập thể, đưa ra cách đề cập toàn diện và biện chứng hơn về nhân quyền. Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội của loài người, nội dung các quyền con người tiếp tục phát triển.
Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa triết học "kinh điển" nào về quyền con người. Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ, Rútxô. và sau này Mác, Ăng ghen , Lênin cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác. Chúng ta thường chỉ thấy các định nghĩa kiểu liệt kê, ví dụ như "quyền con người là quyền.”, chẳng hạn, Lốccơ nói: "quyền tự nhiên của con người là quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu”.
Hiến pháp 1791 của Pháp viết quyền con người - đó là “quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức". Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ 1776 viết: quyền con người - đó là "các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Học giả Trung Quốc Đồng Vân Hồ quan niệm: "có thể nói gọn lại, nhân quyền là quyền tồn tại, phát triển một cách tự do, bình đẳng" [6]. Xét tổng quát, các quan điểm về quyền con người thường đi theo những khuynh hướng sau: Khuynh hướng “quyền tự nhiên”: Cho rằng quyền con người là "tự nhiên", "trời phú” cho mọi người ngay từ khi ra đời.
Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479-381 trước Công nguyên) đã cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là "ý trời". Theo đó, mỗi người đều có quyền tham gia công việc nhà nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của họ, chứ không phải do dòng dõi quyết định. Cũng như vậy, mỗi người đều có các quyền giống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội. Ở Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học ngụy biện như Ăngtiphôn, Ankiđan cũng có những tư tưởng tương tự.
Ở châu Âu, kể từ thời Phục hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày càng trở nên phổ biến. Những đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà lan), I. 7 Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn (Mỹ). Những điều viết về quyền con người trong Hiến pháp 1791 của Pháp, Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ đều theo quan điểm quyền tự nhiên.
Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng. Nó là tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng (xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến sau này) [6]. Vì thế, không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa và ảnh hưởng. Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên, nhưng nhược điểm của nó là che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người.
Khuynh hướng “quyền thực định” (hay “quyền pháp lý”): Trái với khuynh hướng quyền tự nhiên, khuynh hướng quyền thực định coi quyền con người là tất cả những gì mà nhà nước thông qua pháp luật để quy định cho cá nhân. Chỉ những gì pháp luật cho phép tự do làm hay không được làm thì mới là quyền con người, và chỉ được coi là quyền con người khi một hành vi hay một yêu cầu của cá nhân là hợp pháp. Khuynh hướng thực định có điểm hợp lý là đã gắn quyền con người với pháp luật, với ý chí mà nhà nước (mà điều này thì không thể bỏ qua được, vì quyền con người phải tồn tại dưới hình thức quy phạm pháp luật thì mới có thể được bảo đảm thực thi) nhưng nó cũng có nhược điểm là chỉ coi ý chí nhà nước là nguồn gốc của quyền con người. Khuynh hướng này coi trọng tính hợp pháp của quyền, song không để ý đến tính hợp lý của nó - cái mà nhờ đó, ngay cả những đòi hỏi, những nhu cầu chính đáng cho cuộc sống (nhưng chưa được pháp luật ghi nhận) cũng phải được coi là quyền con người.
Do đó, không thể coi quyền con người chỉ là cái được phép làm, được hưởng theo pháp luật, mà còn cả cái đáng được làm, đáng được hưởng (những cái chưa được pháp luật khẳng định, nhưng sẽ phải khẳng định). 8 Khuynh hướng “kinh tế”: coi quyền con người là những gì được phép làm nảy sinh từ nhu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, khuynh hướng này coi nguồn gốc của quyền con người là kinh tế. Không phải “trời phú” tự nhiên, cũng không phải do nhà nước ban phát, mà chính đời sống kinh tế làm nảy sinh ra các quyền con người.
Tác giả người Trung Quốc Từ Sùng Ôn viết: "Nhân quyền, suy cho cùng bắt nguồn từ điều kiện kinh tế-xã hội, phản ánh lợi ích cơ bản của một giai cấp nhất định" [8, tr. Khuynh hướng kinh tế có điểm hợp lý ở chỗ, nó cho thấy nguồn gốc của quyền con người là bản thân đời sống xã hội của con người. Nó tước bỏ cái vỏ "thần thánh", "tự nhiên", không giải thích được của quyền con người, trả quyền con người về với đời sống thực tại của con người. Theo khuynh hướng này, có thể đi đến quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề quyền con người.
Nó cũng cho thấy tính giai cấp trong những đòi hỏi về quyền con người. Song, sẽ là không đầy đủ nếu coi quyền con người chỉ có nguồn gốc kinh tế. Quyền con người còn bao hàm những yêu cầu về danh dự, nhân phẩm, về đời sống tinh thần, tình cảm của con người., nghĩa là những điều nằm ngoài phạm trù kinh tế. Khuynh hướng “quan niệm": cho rằng quyền con người là tất cả những gì mà con người cho là cần thiết và có giá trị đối với cuộc sống con người.
Theo khuynh hướng này, mọi quyền lợi, nhu cầu, lợi ích và những giá trị tinh thần đều có thể trở thành quyền con người nếu như người ta quan niệm như vậy. Ở đây, xét về mặt chủ quan, khía cạnh giá trị của quyền con người là điều cần thiết, bởi khác với các quan hệ xã hội hiện thực luôn hiện ra trước nhận thức con người như cái gì đó độc lập, khách quan không tuỳ thuộc vào quan niệm có trước, quyền con người trước khi trở thành hiện thực, thành nguyên tắc mà quan hệ giữa người với người, giữa nhà nước và cá nhân, thì trước hết phải trở thành quan niệm của chính con người, nghĩa là được con người coi là cái thiết yếu, cái cần phải như vậy - cần cho sự tồn tại, sự phát 9 triển toàn diện của con người không chỉ về đời sống vật chất và cả về đời sống tinh thần nữa. Trong thực tế, quyền con người luôn gắn với quan niệm chủ quan, với các giá trị như vậy, cho nên một mặt, chúng ta phải thừa nhận những quan niệm mang tính nhân loại về quyền con người, và mặt khác, nhiều khi chúng ta phải đối mặt với tình trạng là đôi khi nhân danh quyền con người, các cá nhân, các nhóm người, vì lợi ích riêng của mình đã đưa ra những đòi hỏi vô lý, trái với lợi ích chung của cộng đồng. Do đó, vấn đề quyền con người thường trở thành vấn đề gây tranh cãi trên trường quốc tế, nhất là khi nó được lồng vào một động cơ chính trị nào đó.
Tóm lại, quyền con người là vấn đề phức tạp, đa diện, chứa đựng những mặt đối lập, mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Đó là các mặt khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo lý và luật pháp. Nó cũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân loại, v. Khi xem xét quyền con người, chúng ta phải phân biệt rõ bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức, nguồn gốc và sự phát triển của nó.
Xuất phát từ tất cả những khía cạnh nêu trên, có thể nói rằng quyền con người chẳng qua là sự tự ý thức của con người về những giá trị, những nhu cầu sống cơ bản, phù hợp với trình độ phát triển mang tính thời đại của xã hội loài người. Nói về quyền con người cần phải đề cập đến hai vấn đề cơ bản sau đây: - Vấn đề tự do: người ta thường đồng nhất quyền con người với tự do cá nhân và ngược lại. Một nhà lý luận hiện đại người Pháp, ông Morangie khẳng định: “về một số mặt, hai từ này là hai từ đồng nghĩa" [8, tr.