Chương 1: Giới thiệu; Chương 2: Tổng kết lý thuyết và các nghiên cứu đã có; Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu; Chương 4: Kết quả thực nghiệm và thảo luận kết quả; Chương 5: Kết luận và Hạn chế của đề tài.5 Điểm mới của đề tài Trước hết, đối với nghiên cứu gốc của Uwuigbe và Olusanmi (2012), hai tác giả này không xem xét thành phần sở hữu nhà nước trong cơ cấu sở hữu của các công ty tại Nigieria mà chỉ xem xét thành phần sở hữu nước ngoài, sở hữu của ban giám đốc và sở hữu nhà đầu tư tổ chức. Tuy nhiên, ngoài các thành phần sở hữu trên, tại Việt Nam, rất nhiều công ty có sự góp mặt của cổ đông nhà nước, có thể thông qua hình thức công ty mẹ-con hoặc đầu tư vốn. Vì vậy, có thể nói thành phần sở hữu nhà nước là một đặc điểm trong cơ cấu sở hữu của các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, bài nghiên cứu này có sự khác biệt so với nghiên cứu gốc ở chỗ có bổ sung biến sở hữu nhà nước vào cơ cấu sở hữu để xem xét mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Đối các đề tài nghiên cứu Việt Nam, đã có một vài nghiên cứu về ảnh hưởng riêng lẻ của các thành phần sở hữu như vốn sở hữu nước ngoài, vốn sở hữu nhà nước lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ riêng lẻ của một thành phần sở hữu đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Một nghiên cứu đáng chú ý có xem xét nhiều thành phần sở hữu cùng lúc là luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quốc Việt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 năm 2010 với đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố điều hành công ty đến hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần”. Mục tiêu nghiên cứu của luận án này là “Nghiên cứu mối tương quan giữa các nhân tố điều hành công ty với hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần tại Việt Nam, đại diện cho nền kinh tế đang chuyển đổi sang cơ chế thị trường và môi trường pháp lý chưa hoàn thiện”.
Như vậy, tuy có xem xét nhiều thành phần sở hữu cùng lúc trong cơ cấu sở hữu nhưng luận án này có mục tiêu nghiên cứu khác với mục tiêu nghiên cứu của học viên. Luận án sử dụng tỷ lệ ROA làm biến phụ thuộc và các biến độc lập gồm có cấu trúc sở hữu , tính chất của HĐQT , tính chất của BKS, tính chất của ban giám đốc, các biến kiểm soát. Cụ thể, trong biến lớn là cấu trúc sở hữu, tác giả xem xét 3 biến nhỏ là các thành phần sở hữu, gồm tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu của tư nhân lớn. Tỷ lệ sở hữu của ban giám đốc được tách thành một biến lớn để xem xét.
Các biến độc lập được cùng lúc đưa vào mô hình để tiến hành kiểm định thực nghiệm. Dữ liệu được lấy trong thời gian 3 năm, từ 2006 đến 2008. Vì vậy, đề tài của học viên có một số điểm khác biệt so với nghiên cứu của tác giả Phạm Quốc Việt: Thứ nhất, đề tài này chỉ chọn nghiên cứu một yếu tố là quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Thứ hai, đề tài này mở rộng thời gian thu thập dữ liệu ra 4 năm, từ 2008 đến 2011 để có thể phản ánh rõ hơn mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu.
Thứ ba, trong Luận án của tác giả Phạm Quốc Việt chưa xem xét thành phần sở hữu tổ chức (institutional ownership) trong cơ cấu sở hữu đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, đề tài này sẽ xem xét thêm biến này trong mô hình để kiểm tra mối quan hệ giữa phần vốn sở hữu của các tổ chức đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Quản trị công ty (corporate governance) Vì cơ cấu sở hữu là một thành phần trong hệ thống quản trị công ty nên phần này sẽ đề cập vắn tắt đến khái niệm quản trị công ty. Quản trị công ty là một chủ đề ngày càng có tầm quan trọng đáng kể, thu hút nhiều tranh luận trên thế giới, nhất là sau sự sụp đổ hàng loạt của các tổ chức tài chính lớn trong vài năm gần đây (Mishari et al.
Tuy nhiên, chưa có một khái niệm quản trị công ty chung trên thế giới. Holly và Marsha (1999) cho rằng thuật ngữ quản trị công ty mang cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng. Về nghĩa rộng, quản trị công ty bao gồm sự kết hợp của các luật, quy định, quy tắc và thực tiễn từng ngành nhằm giúp các công ty thu hút vốn, hoạt động hiệu quả, tạo ra lợi nhuận, đáp ứng cả nghĩa vụ pháp lý và kỳ vọng của xã hội nói chung. Jean et al.
đã khái quát trong cuốn sách viết về chủ đề quản trị doanh nghiệp, Principles of Contemporary Corporate Governance của mình rằng “quản trị công ty là một hệ thống điều chỉnh, giám sát cách thức quản trị công ty và cân bằng lợi ích của tất cả những đối tượng chịu ảnh hưởng bởi cách thức quản trị công ty, như các cổ đông nội bộ và các đối tượng khác (các bên liên quan ngoài công ty, chính quyền và cộng đồng địa phương) nhằm bảo đảm công ty thực hiện hành vi có trách nhiệm và đạt hiệu qủa cũng như khả năng sinh lợi cao nhất”. Trong Bộ nguyên tắc về quản trị công ty (Principles of Corporate Governance) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng bàn về quản trị công ty như sau: “Quản trị công ty là một yếu tố then chốt để đẩy mạnh hiệu quả thị trường, phát triển kinh tế cũng như tăng cường lòng tin của nhà đầu tư. Quản trị công ty liên quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, Hội đồng Quản trị, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác. Quản trị công ty cũng thiết lập cơ cấu qua đó giúp xây dựng mục tiêu của công ty, xác định phương tiện để đạt được các mục tiêu đó, và giám sát hiệu quả thực hiện mục tiêu.
Quản trị công ty tốt cần tạo được sự khuyến khích đối với Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc để thực hiện các mục tiêu vì lợi ích công ty và cổ đông, và phải tạo điều kiện giám sát hiệu quả. Sự tồn tại của hệ thống quản trị công ty hiệu quả trong phạm vi một công ty và trong cả nền kinh tế nói chung góp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 phần tạo ra mức độ tin tưởng là nền tảng cho sự vận hành của kinh tế thị trường. Nhờ đó, chi phí vốn thấp hơn và công ty được khuyến khích sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn, và vì thế củng cố sự phát triển”. Về nghĩa hẹp, Holly và Marsha (1999) cho rằng quản trị công ty liên quan đến mối quan hệ giữa các nhà quản lý (ban giám đốc) và cổ đông công ty.
OECD thừa nhận trên thực tế đây cũng là bắt nguồn cho các vấn đề quản trị. Định nghĩa quản trị công ty được Mishari et al. Có thể thấy, dù chưa có một khái niệm chung nhưng hầu hết các khái niệm đưa ra đều liên quan đến vấn đề đại diện (agency problem) sẽ đề cập dưới đây.2 Vấn đề đại diện (agency problem) Lý thuyết đại diện là cơ sở lý thuyết quan trọng nhất, xem xét và giải thích mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty (Juan et al. Vincent Ongore (2011) khi nghiên cứu quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hiệu quả hoạt động của các công ty tại Kenya cũng sử dụng lý thuyết đại diện làm khung lý thuyết cho nghiên cứu của mình.
Về lý thuyết đại diện, Haslinda và Benedict (2009) đã cho biết như sau: “Lý thuyết đại diện trong kinh tế được khai thác bởi Alchian và Demsetz (1972) và tiếp tục được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976). Lý thuyết đại diện được định nghĩa là "mối quan hệ giữa những người chủ, chẳng hạn như cổ đông với các chủ thể đại diện như các giám đốc và những người quản lý công ty". Theo lý thuyết này, cổ đông là những chủ sở hữu công ty thuê các chủ thể đại diện để thực hiện công việc. Các chủ sở hữu giao phó các hoạt động kinh doanh cho những người đại diện là các giám đốc hoặc người quản lý.
Các cổ đông mong đợi những người đại diện hành động và đưa ra quyết định dựa trên lợi ích của cổ đông. Ngược lại, những người đại diện lại không phải luôn luôn đưa ra quyết định vì lợi ích cao nhất của cổ đông. Vấn đề này lần đầu tiên được Adam Smith chỉ ra trong thế kỷ 18, sau đó được Ross (1973) khám phá thêm và sau đó Jensen và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Meckling (1976) đã hình thành nên mô tả chi tiết đầu tiên về lý thuyết đại diện. Trong lý thuyết đại diện, những người đại diện có thể xuất hiện hành vi cơ hội, tư lợi và không đạt được sự phù hợp giữa nguyện vọng của cổ đông và những gì người đại diện theo đuổi.” Theo Uwuigbe và Olusanmi (2012), hầu hết các nghiên cứu về quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hiệu quả hoạt động của các công ty đều liên quan đến vấn đề đại diện; và vấn đề đại diện bắt nguồn từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát công ty (Alireza và Ali, 2011).
Vấn đề đại diện nảy sinh từ mối quan hệ giữa các cổ đông và nhà quản lý do xung đột lợi ích trong công ty (Alireza và Ali, 2011). Hai tác giả này cũng dẫn ra rằng việc tách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát trong mô hình công ty hiện đại đã làm giảm động lực cho các nhà quản lý (ban giám đốc) thực hiện tối đa hóa hiệu quả hoạt động công ty. Cổ đông quan tâm đến việc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, trong khi mục tiêu của các quản lý có thể là củng cố lợi ích riêng, an toàn công việc cũng như uy tín cá nhân (Mishari et al. Mishari et al.