mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại. Trong khi các nước Tây Âu có những bước chuyển biến nhảy vọt như vậy thì nước Đức lúc này vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu, Liên bang Đức chỉ tồn tại về mặt hình thức, còn trên thực tế đất nước vẫn phân tán thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau, tình trạng cát cứ vẫn còn tồn tại. Cùng với đó kinh tế kém phát triển, manh mún, không đủ sức mạnh, năm 1822 cả 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước Đức mới chỉ có 2 máy hơi nước, nông nghiệp đình đốn. Về chính trị, triều đình vua Phổ Phriđrích Vinhem vẫn ngoan cố tăng cường quyền lực và duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối nát, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Chính sự phân tán của nước Đức làm cho giai cấp tư sản Đức không đủ sức mạnh và bản lĩnh để lật đổ chế độ phong kiến Phổ, ngược lại còn thoả hiệp với chế độ đó để cai trị đất nước. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển nhanh và quan hệ sản xuất đã lỗi thời ngày càng bộc lộ gay gắt và được thể hiện ngay trong những tác phẩm của các đại biểu triết học cổ điển Đức. Họ là những người thể hiện thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX. Nhận thấy sự trì trệ của xã hội Đức phong kiến thời đó, được sự cổ vũ của giai cấp tư sản nhiều nước, họ biểu thị nguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức, nhằm đem lại sự thịnh vượng, phồn vinh và thống nhất đất nước.
Nhưng khác với giai cấp tư sản ở các nước Tư bản phát triển, giai cấp tư sản Đức đã từng thoả hiệp với tầng lớp quý tộc Phổ, giữ lập trường cải lương trong quá trình phát triển đất nước. Điều đó thể hiện tính chất yếu kém, mâu thuẫn của giai cấp tư sản Đức, chính vì vậy những tư tưởng trong triết học cổ điển Đức mang tính trừu tượng, khó hiểu và mâu thuẫn, mặc dù thành công của cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) đã thức tỉnh giai cấp tư sản Đức đấu tranh dũng cảm hơn, nhưng chưa đạt được tính kiên quyết và triệt để. Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị nhưng nước Đức thời kỳ này lại đạt được sự phát triển rực rỡ về triết học, văn hoá và nghệ thuật. Đây là quê hương của nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Gớt, Sinlơ, Hécđơ, Vônphơ, Lessing,… Một mặt họ tiếp thu những di sản tư tưởng và văn hoá Đức truyền thống, kế thừa các quan điểm của Nicôlai Kuzan, Lépnít… mặt khác, kết hợp với tư tưởng Khai sáng và văn hoá Pháp thế kỷ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com XVIII, từ đó tạo nên những nét đặc trưng cơ bản của văn hoá Tây Âu thời kỳ Cận đại.
Bối cảnh lịch sử đó ở Tây Âu và nước Đức đặt trước các nhà triết học nhiều vấn đề cần giải quyết, tư tưởng siêu hình học thế kỷ XVII (với các đại biểu chính như Đềcáctơ, Xpinôza, Lépnít…) từng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hoá tri thức con người đã không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tiễn và tư tưởng Tây Âu thế kỷ XVIII nữa, khi mà hàng loạt các khoa học đã đủ sức phát triển tách ra khỏi cái nôi triết học của mình, trở thành những lĩnh vực nghiên cứu độc lập. Ngay từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, đã xuất hiện những xu hướng xét lại siêu hình học và các giá trị tư tưởng truyền thống. Tuy nhiên, triết học Tây Âu Phục hưng và Cận đại (ngay cả triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII) tuy từng là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản tiến hành các cuộc cách mạng xã hội, phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi quan niệm cơ học về thế giới, tư duy siêu hình thống trị trong thời kỳ này không còn khả năng lý giải bản chất của thực tiễn xã hội đang diễn ra cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Thực tiễn trên đặt ra một yêu cầu cấp bách là phải có cách nhìn mới về các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan điểm mới về khả năng và hoạt động của con người.
Và triết học cổ điển Đức với các đại biểu I. Cantơ, Phichtơ, Senlinh, Hêghen, Phoiơbắc ra đời nhằm đáp ứng những sứ mệnh lịch sử đó của không chỉ riêng nước Đức, mà cả phương Tây nói chung. Triết học của họ được xem như những cơ cấu tinh thần thống nhất, với việc đề cao vai trò của triết học trong lịch sử loài người, trong phát triển văn hoá của thế giới. Triết học có sứ mệnh tinh thần cao cả là thực hiện một sự phản tư sâu rộng và tràn đầy tinh thần phê phán đối với hoạt động sống của con người.
Hêghen từng coi triết học là thời đại đương thời của nó được tư 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com duy nhận thức, ông đề cao triết học vì nó là một khoa học chặt chẽ và có hệ thống, triết học được củng cố bởi khoa học để quay trở lại cung cấp những định hướng nhân văn và phương pháp luận cho khoa học. Họ cũng đặc biệt đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, thực hiện bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng phương Tây từ chỗ chủ yếu bàn về những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận… đến chỗ coi con người như một chủ thể hoạt động là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học. Các nhà triết học cố gắng suy luận về con người nhờ nghiên cứu những hình thức hoạt động khác nhau của con người, kể cả hoạt động xã hội, bàn luận về xã hội, con người xã hội trong khuôn khổ của triết học như triết học pháp quyền, triết học đạo đức, triết học lịch sử toàn cầu, triết học nghệ thuật và triết học tôn giáo. Với Hêghen, ông khẳng định con người là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định nên mang bản chất xã hội.
Ông đề cao sức mạnh trí tuệ và hoạt động của con người đến mức cực đoan, thần thánh hoá con người, coi con người là chúa tể của tự nhiên, bản thân tự nhiên cũng chỉ là kết quả hoạt động của con người. Triết học cổ điển Đức dựa trên một cách nhìn biện chứng về thế giới hiện thực mà hạt nhân của nó là quan điểm chỉnh thể, phát triển về thế giới. Quan điểm phát triển được áp dụng vào nghiên cứu tất cả mọi lĩnh vực sinh hoạt của con người: tự nhiên, xã hội, con người, nhận thức, khoa học. Với việc phát hiện ra những quy luật và các phạm trù cơ bản của phép biện chứng, Hêghen đã xây dựng nó trở thành một khoa học về sự phát triển của tất thảy mọi sự vật và tư tưởng.
Ý nghĩa thực sự cách mạng và khoa học của triết học Hêghen ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những kết quả của tư tưởng và hành động con người. Theo Hêghen, chân lý mà triết học có nhiệm vụ phải nhận thức, không còn là một tập hợp những nguyên lý giáo điều, những kết luận có sẵn mà chân lý nằm trong chính quá trình nhận thức, trong 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự phát triển lịch sử lâu dài của khoa học. Để nhận thức được chân lý thì nguyên tắc chung chính là tôn trọng và đi theo con đường lý tính vạch ra. Không thể xem xét sự phát triển của lịch sử nhờ tiên tri, trực giác mà cần phải nghiên cứu nó trên cơ sở khoa học lý luận.
Với cách nhìn biện chứng bao quát toàn bộ hiện thực, triết học cổ điển Đức tập trung soi tỏ nguyên tắc tự do và những giá trị nhân văn khác. Nó cũng tiến hành hệ thống hoá toàn bộ những tri thức và thành tựu mà nhân loại đạt được từ trước tới giờ. Hêghen có ý đồ xây dựng một hệ thống triết học vạn năng làm nền tảng cho toàn bộ thế giới quan con người, khôi phục quan niệm coi triết học là khoa học của các khoa học. Thực tiễn nước Đức đã tạo ra những yêu cầu buộc triết học phải chuyển mình mạnh mẽ, đòi hỏi các nhà tư tưởng phải có một cái nhìn mới, phản ánh đúng hiện thực cũng như vạch ra con đường để đưa nước Đức thoát khỏi tình trạng kém phát triển về kinh tế, chính trị so với các nước khác.
Và các nhà triết học cổ điển Đức đã làm được nhiều cho dân tộc mình và cho nhân loại. Có thể khái quát thành một số điểm nổi bật sau: Thứ nhất, thành tựu triết học cơ bản của thời đại này là phép biện chứng, mặc dù còn trên cơ sở duy tâm nhưng nó đã mở ra một hướng đi mới cho tư duy con người. Những nguyên tắc lịch sử, lôgíc đã ăn sâu vào tư duy triết học hình thành tư tưởng lôgíc học biện chứng mới. Thứ hai, mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức được xem xét trong sự tác động qua lại hai chiều, đặc biệt nhấn mạnh tính tích cực của ý thức, sự thâm nhập của chủ thể vào khách thể và sự tương tác liên tục giữa chúng.
Thứ ba, lĩnh vực tinh thần được nghiên cứu trên quy mô rộng hơn, nó bao gồm cả những quá trình hữu thức, vô thức chưa kiểm soát được. Tính có hệ thống của tư duy còn bao gồm cả tính tự sinh, hoạt động vô 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức của con người hiện diện cả trong hành vi sáng tạo là nơi vai trò quyết định thuộc về trí tưởng tác tạo. Thứ tư, xã hội được xem xét trong tính quy luật của nó trải qua các giai đoạn phát triển hợp quy luật trong lịch sử. Thứ năm, triết học cổ điển Đức đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề thẩm mỹ học, đạo đức học và chủ nghĩa nhân bản, những vấn đề cốt lõi liên quan đến con người cũng như các hình thái ý thức của xã hội loài người.