Chương 1, luận văn sẽ đi vào phân tích tính liên văn hóa ở cấp độ thứ nhất, cấp độ hình tượng của hai bản chuyển thể điện ảnh là Bốn đêm của kẻ mộng mơ (Robert Bresson 1971) và Người yêu dấu (Sanjay Leela Bhansali 2003) qua các tín hiệu về hình tượng. Cụ thể là ở các khía cạnh: Không gian, thời gian và nhân vật để từ đó thấy được văn hóa đã tác động, chi phối và tạo ra những tác phẩm chuyển thể mới như thế nào. Chương 3: TÍNH LIÊN VĂN HÓA Ở CẤP ĐỘ THỂ LOẠI Trong chương này, luận văn sẽ đi vào phân tích những dấu hiệu ngầm ẩn của văn hóa mỗi quốc gia (Pháp và Ấn Độ) đã tác động lên đặc trưng thể loại, cả ở hình thức và nội dung của hai bản chuyển thể điện ảnh. Trong cấp độ thể loại, luận văn tập trung làm rõ hai khía cạnh là phong cách riêng của hai đạo diễn: tư tưởng và các kỹ thuật phim đã được áp dụng.
Qua đó, chúng ta sẽ thấy được tính bản địa khi so sánh với văn bản văn chương nguồn. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CHUYỂN THỂ 1. Khái niệm chuyển thể 1. Chuyển thể như là tái hiện Đây là một quan niệm phổ biến nhất về chuyển thể trong sáng tạo điện ảnh.
Đặc trưng chất liệu ngôn từ của văn học mang đến những hình tượng gián tiếp và không có tính trực quan. Điện ảnh lại là loại hình nghệ thuật sinh sau đẻ muộn, bởi vậy, nó có tham vọng tổng hợp nhiều khả năng trần thuật bên trong mình. Nhờ những phương tiện điện ảnh mang đến hình ảnh sống động, khả năng hồi cố, đan cài, song song trong tâm tưởng, điện ảnh đã giúp trực quan hóa văn học mà kịch sân khấu hay nhà hát opera không thể tái hiện được. Khái niệm chuyển thể (adaptation, một số cách dịch khác là cải biên/thích nghi) trong các diễn ngôn nghiên cứu điện ảnh, đặc biệt là điện ảnh chuyển thể và các nghiên cứu sinh học.
Nguyên nghĩa, adaptio/adaptare có nghĩa là làm cho vừa vặn (to make fit, to alter). Chuyển thể (trong mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh) đã trở thành một hình thức gắn liền với lịch sử phát triển của màn bạc ngay từ khi nó ra đời vào thế kỉ XX. Điện ảnh một mặt gắn chặt với những tiến bộ khoa học giúp nó “sao chép” những chuyển động của đời sống thực, mặt khác tìm nội dung cho việc kể lại đời sống ở người anh cả lão làng – văn học. Tới năm 1915, các hình ảnh văn chương sẽ ngày càng trở thành chất liệu cho điện ảnh nhằm tách màn bạc ra khỏi truyền thống nghệ thuật tạp kỹ và đem đến một kỳ vọng mới từ xã hội cho ngành nghệ thuật máy móc (nổi bật nhất là phiên bản phim tiếng Ý của tiểu thuyết Ba Lan Quo vadis năm 1913 cùng tác phẩm huyền thoại Intolerance của D.Griffith năm 1916, sử dụng điệp khúc hình ảnh trong thơ của Walt Whitman để kết nối kinh Tân ước, hai câu chuyện lịch sử và một tấn kịch hiện đại lại với nhau.
Năm 1932, tác phẩm The Magic Mountain được dựng thành phim kéo theo đó là tâm trạng mâu thuẫn của chính tác giả với phim chuyển thể: căm ghét nó - nhưng cũng rất yêu nó. Tới năm 1996, các tác phẩm của Jane Austen như Sense and Sesibility (1915); Clueless (1915)… cũng được chuyển thể, đã tạo nên một thế hệ độc giả mới quan tâm đến chính tác phẩm văn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chương của Jane thông qua việc xem phim. Điện ảnh từ thời sơ khai đã luôn kiếm tìm những nguồn văn học khác nhau để khai thác (Các tiểu thuyết, kịch văn học, truyện ngắn, thơ và thậm chí cả bài luận cũng luôn có đối xử xứng tầm trong phim ảnh), vì thế, Dudley Andrew đã chỉ ra rằng: “việc nghiên cứu chuyển thể cũng tương đồng như nghiên cứu màn bạc nói chung” [34, trg. Chuyển thể được xem là một xu hướng phổ quát trong tất cả các xã hội loài người nhằm viết lại một văn bản gốc nào đó.
Kết quả của việc đó là tác phẩm chuyển thể hoặc trung thành hoặc rất ít liên hệ với văn bản nguồn: “Chuyển thể, với tư cách là là một tác phẩm phát triển từ bản gốc-đôi khi thậm chí là cả nhào nặn và biến đổi - từ một nguồn có sẵn” [13]. Có thể thấy, việc làm phim dựa trên một văn bản có trước cũng lâu đời như chính cơ cấu điện ảnh. Quá nửa số phim thương mại đều bắt nguồn từ những tác phẩm văn học - cho dù tất cả những văn bản gốc đó đều chẳng nhận được chút tôn trọng sùng bái nào. Chuyển thể rõ ràng đã mang đến nội dung và đôi khi là cả hình thức để tái hiện hiện thực và để hình thành cho mình một thứ ngôn ngữ riêng.
Với những bước đỡ đầu đầy vững chắc và hứa hẹn của văn học, chuyển thể đã trở thành một trong những hoạt động lâu đời nhất và cốt lõi nhất của lịch sử điện ảnh. Trung tâm tính của chuyển thể thường được đem ra thảo luận chính là trung thành hay khác biệt, từ đó trở thành một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất của lịch sử chuyển thể. Những động cơ của hành động tái hiện, mô phỏng này có thể tìm thấy ngay trong chính những tác phẩm nguồn. Văn bản văn chương với chất liệu bằng ngôn từ đã xây nên những hình tượng gián tiếp.
Chúng được gợi ra từ sự đọc của mỗi độc giả. Tuy không mang đến một chỉ dẫn cụ thể nhất quán cho điện ảnh, song văn học lại mang đến cho ngành nghệ thuật thị giác này những kinh nghiệm gián tiếp vô cùng quý giá. Thêm nữa, ước muốn được nhìn những gì trực quan, những gì hữu hình đã tồn tại quá lâu trong sự tưởng tượng từ việc đọc tác phẩm văn chương cũng tạo nên động lực để các nhà làm phim chuyển thể để thị giác hóa điều ấy. Hoạt động chuyển thể từ văn bản văn chương đến phim ảnh theo quan điểm truyền thống là hoạt động dịch.
Nhà làm phim sẽ phải dịch chuyển đơn vị cơ sở của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn chương là ngôn từ sang đơn vị cơ sở của điện ảnh là hình ảnh. Sự dịch chuyển này về bản chất là tái hiện, thị giác hóa lại ngôn từ lên phim. Cụ thể hơn, hoạt động chuyển thể mang tính tái hiện này sẽ liên quan đến các thuật ngữ của hệ thống ngôn ngữ (nếu ta cũng quan niệm phim như một văn bản) mà trong đó đơn vị cơ sở cấu thành nên văn bản văn học chính là tự vị, từ và câu, còn văn bản phim là bóng tối và ánh sáng được chiếu đèn, các hình dạng và âm thanh có thể nhận biết được, và các hành động được biểu diễn. Các hệ thống này có thể được xây dựng theo cách riêng nhưng chúng ta luôn luôn có thể tạo nên được sự phù hợp thích đáng từ các hệ thống khác nhau bằng cách tạo nên những dấu hiệu đặc biệt từ mỗi đơn vị trong hệ thống và nhấn mạnh đặc điểm chung của chúng.
Vấn đề chuyển thể sẽ trở thành vấn đề tìm kiếm hai hệ thống giao tiếp cho các yếu tố có vị trí tương đương trong các hệ thống có khả năng khơi gợi cái được biểu đạt ở mức độ phù hợp sẵn có. Keith Cohen trong Film and Literature: The Dynamics of Exchange đã tìm cách chứng minh cho mối liên hệ giữa những hình thức nghệ thuật này: “Tôi từng đưa ra một nhận định cơ bản rằng cả ngôn ngữ và hình ảnh đều là tập hợp các ký hiệu thuộc về hệ thống và rằng, ở một mức độ trừu tượng nhất định, những hệ thống này mang lại sự tương đồng với hệ thống khác. Cụ thể hơn, trong mỗi hệ thống như thế này đều có nhiều mã khác nhau (thuộc về cảm giác, quy chiếu, biểu tượng). Vậy thì cái mang lại khả năng cho một nghiên cứu về liên hệ giữa hai hệ thống ký hiệu khác biệt, giống như tiểu thuyết và phim, là cái thực tế rằng những mã tương tự có thể tái hiện không chỉ trong hệ thống… Bởi vậy, người ta có thể thấy chính cơ cấu của hệ thống ngôn ngữ mang các mối tương quan phức tạp và đa dạng: ngoài các chức năng khác, chức năng ngôn ngữ là để định rõ các đơn vị được phân cắt bởi hình ảnh (nhưng cũng góp phần phân cắt chúng), và … ngoài các chức năng khác, chức năng của hình ảnh là để truyền cảm hứng cho các hình thể ngữ nghĩa (nhưng cũng được chúng truyền cảm hứng” [4, trg.374] Chính bản thân điện ảnh trong lịch sử phát triển của mình cũng góp phần định hình nên quan niệm về việc tái hiện.
Ngay từ đầu, điện ảnh đã vay mượn tư liệu văn học trong mọi thể loại để làm nên nội dung và đề tài với mong muốn tự tách mình 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ra khỏi nghệ thuật tạp kỹ và vươn tới một địa hạt mà ở đó vị thế của nó được ghi nhận hơn. Thiết nghĩ, ta cần có một cái nhìn tổng quát về mối “nhân duyên” giữa điện ảnh và văn học để thấy được những động cơ và cách thức của mối quan hệ không dễ miêu tả giữa hai ngành này. Điện ảnh có thể coi là sự kế nhiệm của nhiếp ảnh. Kĩ thuật máy móc đã mang đến cho công chúng phương Tây những năm 1750- 1825 sự hứng thú say mê với hình ảnh và sản phẩm thị giác: “William Hogarth, người xây dựng phương thức kể chuyện trào phúng thông qua một loạt các khắc bản; những tranh tầng sâu và tranh toàn cảnh mô phỏng nổi tiếng đã xuất hiện đâu đó trong sân khấu kịch chính thống và dàn tranh trào phúng (Trong những năm 1790, tác phẩm Phantasmagoria của Etienne Gaspard Robertson đã thu hút hàng vạn người với những phản thân về Rosseau, Marat và những vĩ nhân khác của Cách mạng Pháp), và vô số tuyệt tác khoa học (chẳng hạn như kính viễn vọng do Ngài David Brewster phát minh năm 1814) đã báo trước sự ra đời của phương thức và công cụ khoa học năm 1826 và 1839” [4, trg.
Điều này làm dấy lên sự tranh luận gay gắt về vị thế của văn học trong nền văn hóa dễ bị cuốn hút bởi hình ảnh động thay vì sức mạnh truyền thống của ngôn từ tinh xảo. Chủ nghĩa hiện thực thế kỉ 19 trở thành thước đo phản ánh hiện thực của văn học và các ngành văn hóa thị giác mới nổi như thế. Tuy nhiên, nếu những tiền thân của điện ảnh cứ kể mãi về phong cảnh và phản thân, chính nó cùng với sức mạnh mê hoặc của mình khiến khán giả cảm thấy ngột ngạt.