MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đô thị hóa là quá trình tất yếu đã và đang diễn ra trên phạm vi thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đường lối Đổi mới của Đảng và Nhà nước từ giữa những năm 1980 đã đưa Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể về cả kinh tế và xã hội.
Gắn liền với những thành tựu này là quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng trong phạm vi cả nước. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đi liền với việc xây dựng nhiều khu công nghiệp, khu đô thị. Tất cả các công trình này đòi hỏi phải có mặt bằng để xây dựng do đó nhu cầu về đất xây dựng là rất lớn. Để có đất cho mục đích trên, Nhà nước phải thu hồi một phần đất của nhân dân theo quy định tại điều 39 - Luật đất đai năm 2003.
Những khu đô thị, khu công nghiệp này được mọc lên rất nhiều không chỉ ở nội đô những thành phố lớn mà hiện nay nó được đưa ra các vùng nông thôn ngoại thành, ven đô, ngay trên những khu đất nông nghiệp. Như vậy, những mảnh đất nông nghiệp vốn là tư liệu sản xuất, nguồn kiếm sống duy nhất của người nông dân giờ đã bị thu hồi để dùng vào mục đích cho xây dựng các công trình công nghiệp và nhà ở. Theo số liệu do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa ra tại hội thảo “Nông dân bị mất đất- Thực trạng và giải pháp” tổ chức vào ngày 4/7/2011 tại Hà Nội cho biết tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên cả nước để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị lên tới 366 nghìn ha (chiếm gần 3,9% quỹ đất nông nghiệp), tính bình quân mỗi năm có gần 73,3 nghìn ha đất bị thu hồi. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên môi trường (với 31 tỉnh thành trong cả nước) tính đến ngày 1/1/2008 thì tổng diện tích đất trồng lúa của cả nước còn 4.643ha so với năm 2007.
Mức độ giảm thực tế bằng 1,1 lần so với kế hoạch giảm diện tích đất nông nghiệp năm 2006- 2007. [4] 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc biệt, các khu vực kinh tế trọng điểm (2 vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc) là nơi có diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi lớn, chiếm trên 50% tổng diện tích thu hồi. Đó cũng là các khu vực có mật độ dân số cao. Đồng bằng sông Hồng là nơi có tỷ lệ bị thu hồi nhiều nhất với 4,4%, tiếp đến là Đông Nam Bộ 2,1%.
Ngoài đất được chuyển đổi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp vừa và nhỏ hoặc phát triển các khu đô thị tập trung, còn có những dự án lấy đất làm sân gôn. Chỉ trong 2 năm 2006-2008, đã có hơn 100 dự án sân gôn được cấp phép trên cả nước, đồng nghĩa với việc một diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là diện tích đất lúa thuộc diện "bờ xôi ruộng mật” đã bị thu hồi. Quá trình thu hồi đất nông nghiệp đã tác động trực tiếp đối với người nông dân đặc biệt là vấn đề việc làm. Báo cáo Kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (tháng 6/2012) nêu rõ: thống kê ở 20 tỉnh, thành phố từ năm 2006 – 2010 đã có 298.093 lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, nhưng chỉ có 177.894 lao động có việc làm.
Còn số liệu từ 2003-2008 của Bộ NN&PTNT cũng cho thấy, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã tác động đến đời sống của trên 627.000 gia đình và khoảng 95.000 lao động, 2,5 triệu nhân khẩu nông nghiệp. Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất ở có 1,5 lao động không có việc làm, mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm phải chuyển đổi nghề nghiệp.[10] Như vậy, lực lượng lao động nông thôn vốn đã bị dư thừa nhiều, việc làm thiếu, đời sống của những người nông dân bị thu hồi đất sẽ rất khó khăn và nhiều thách thức. Mất đất, không tìm được việc làm, thất nghiệp, đồng thời nhiều tệ nạn xã hội phát sinh và ngày càng gia tăng. Báo cáo giám sát nhấn mạnh: “Tình trạng thất nghiệp, không có việc làm đang là vấn đề bức xúc ở nhiều vùng thu hồi đất, tái định cư”.
Đây trở thành một vấn đề hết sức cấp bách, trở thành một vấn đề xã hội lớn cần giải quyết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hóa thuộc loại nhanh nhất so với các địa phương khác trong cả nước. Điều này được thể hiện qua sự mở rộng phạm vi địa giới và sự tăng trưởng về số lượng các khu công nghiệp, các khu đô thị. Theo báo cáo mới nhất của Ủy ban Nhân dân thành phố cho biết đến năm 2010 Thành phố Hà Nội có kế hoạch thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng khoảng 5.201 ha đất nông nghiệp, tức là sẽ có khoảng 20 vạn lao động nông nghiệp phải chuyển nghề do mất đất sản xuất.
Mỗi năm Hà Nội thu hồi khoảng 1000 ha đất trong đó 80% là đất nông nghiệp. Nếu tính riêng từ năm 2005 đến nay, thành phố đã thu hồi 1.720 ha đất tương đương 57.580 hộ dân mất đất sản xuất, 5.927 hộ phải tái định cư. Trong số đó có 3,5 vạn hộ bị thu hồi 30% diện tích đất nông nghiệp chiếm 60% số hộ bị thu hồi đất.[41] Phường Kiến Hưng thuộc quận Hà Đông là một xã mới được chuyển thành phường. Phường Kiến Hưng chính là một nơi nằm trong sự giao thoa giữa nông thôn và thành thị rất điển hình.
Tại đây, quá trình thu hồi đất nông nghiệp cũng đã diễn ra và tạo ra những thay đổi lớn đến đời sống của người dân. Chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm đã có ảnh hưởng đến thu nhập, mức sống của người dân, cùng những hệ lụy về mặt xã hội. Từ đây nảy sinh nhiều câu hỏi cần được nghiên cứu để trả lời, trong đó có việc nghiên cứu từ giác độ xã hội học. Đây cũng là lý do để tôi chọn đề tài nghiên cứu “Chuyển đổi việc làm của người dân ven đô sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội” cho luận văn cao học của mình.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2. Ý nghĩa khoa học Đề tài vận dụng cách tiếp cận xã hội học để phân tích, làm rõ một cách khách quan, logic những vấn đề đặt ra. Đó là áp dụng lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý cũng như các phương pháp xã hội học nhằm giải 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thích những ứng xử của người dân trong việc tìm kiếm việc làm mới, chuyển đổi sinh kế, thu nhập sau khi bị thu hồi đất…Đồng thời tìm hiểu xem những những biến đổi đó có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của người dân. Ý nghĩa thực tiễn Việc nghiên cứu đề tài giúp nhìn nhận một cách rõ nét nhất về những loại hình việc làm, tính ổn định và mức độ thu nhập hiện nay của người dân.
Đồng thời, tìm hiểu những ảnh hưởng của sự chuyển đổi đó đến cuộc sống, những khó khăn, mong muốn, nguyện vọng của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm thông tin giúp các nhà quản lý có những giải pháp hiệu quả giúp người dân có cuộc sống ổn định và tốt đẹp hơn. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Thu hồi đất nông nghiệp đang là một vấn đề diễn ra thường xuyên ở nhiều khu vực trên cả nước. Và những ảnh hưởng của quá trình thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống của chính những người dân, người nông dân bị thu hồi đất là một vấn đề đã và được nhiều người quan tâm.
Đây không chỉ là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước mà còn là mối quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Có rất nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu cũng như các bài viết trong và ngoài nước đã đề cập đến vấn đề thu hồi đất nông nghiệp và những vấn đề sẽ nảy sinh sau khi người dân không còn ruộng để canh tác nữa. Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về các tác động xã hội của việc thu hồi đất, điển hình là nghiên cứu “Tác động của quá trình thu hồi đất trên quy mô lớn tại vùng nông thôn Ethiopia- nghiên cứu trường hợp Bako-Tibe Woreda” [46] của tác giả Moges Gobena, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng hiện tại có rất ít các công trình nghiên cứu về tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống của người dân đặc biệt tại Châu Phi. Chính vì vậy mục đích của nghiên cứu này là chỉ ra các hệ quả của việc thu hồi đất 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tới sinh kế của người nông dân Ethiopia, hệ quả này bao gồm các tác động tới sinh kế, an ninh lương thực, sự quản lý các tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững.
Sau quá trình triển khai nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng: để tạo ra được một tình huống mà cả hai bên cùng có lợi thì phải đảm bảo các điều kiện có sự tham gia của các bên liên quan, có sự đánh giá tác động đến môi trường cũng như có các chính sách hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm…Tuy nhiên, điều tra thực nghiệm cho thấy việc triển khai các dự án thu hồi đất đều không đáp ứng được điều kiện trên: sự tham gia của các bên liên quan hầu như là không có đặc biệt là nông dân địa phương, không có các đánh giá tác động đến môi trường đặc biệt là việc phá rừng, không có chính sách hỗ trợ việc làm và hỗ trợ sinh kế thì bị hạn chế một cách thấp nhất. Việc thu hồi đất không gây ra sự di động của người dân mà nó ngày càng làm “xói mòn” sinh kế của họ. Những công việc mà họ có được từ các dự án thường mang tính chất tạm thời, điều kiện làm việc kém và mức lương thấp. Ở Trung Quốc, Kathy Le Mons Walker cũng cho thấy một bức tranh tương tự.
Trích dẫn nhiều nguồn tài liệu khác nhau, Walker cho biết ở Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1995 có 27,5 triệu mu1 vuông đất bị thu hồi. Tổng diện tích đất canh tác giảm 120 triệu mu trong tám năm tiếp theo, 1996-2004.