Chương 1: Giới thiệu tổng quan sự cần thiết của luận văn, trong chương này tác giả nêu rõ mục tiêu tổng quan và mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích việc chuyển đổi cây trồng vật nuôi tác động đến thu nhập của nông hộ tại huyện Châu Thành A. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu có liên quan, trong chương này tác giả chủ yếu nêu rõ những lý thuyết về đa dạng hóa, những yếu tố cơ bản mà các bài nghiên cứu trước đây đã thực hiện để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, và giới thiệu tổng quát phương pháp phân tích dữ liệu cũng như các nhóm biến cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả của việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi của nông hộ. Chương 3: Phương pháp thực hiện nghiên cứu, trong chương này tác giả mô tả phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và phương pháp phỏng vấn nông hộ trong việc chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp của huyện Châu Thành A, bên cạnh đó, để phân tích từng mục tiêu cụ thể, tác giả đề xuất hướng phân tích thống kê mô tả, phân tích mô hình thu nhập và một số kiểm định T-test, Chi-test để so sánh hai trung bình, so sánh hai tỷ lệ nhằm mục tiêu phân tích và làm rõ mục tiêu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, đây là chương trọng tâm của bài viết, trong chương này tác giả mô tả về địa bàn nghiên cứu, những kết quả nổi bật và đặc điểm của mẫu số liệu điều tra, cũng như đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả việc chuyển đổi sản xuất của nông hộ và những điểm mới, nhấn mạnh đạt được thành công của bài viết.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị, đây là chương tổng kết lại toàn bộ bài viết đồng thời đề xuất những kiến nghị và giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông hộ trong việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi tại huyện Châu Thành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Qua đó, nhận xét điểm yếu của bài và hướng nghiên cứu trong tương lai để hoàn thiện bài viết và nội dung đề tài khi có điều kiện. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN 2. Cơ sở lý luận về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp và thu nhập của nông hộ 2.
Khái niệm về nông thôn, hộ, nông hộ và kinh tế hộ - Nông thôn là một hình thức cư trú mang tính không gian - lãnh thổ, xã hội của con người, nơi sinh sống của những người chủ yếu làm nghề nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp (Phan Văn Thạng, 2008). - Hộ và nông hộ đã hình thành và tồn tại từ rất lâu đời, đến nay còn nhiều quan điểm khác nhau chưa đi đến thống nhất. Nhưng trong phạm vi nghiên cứu này hộ và nông hộ được hiểu như sau: + Hộ gia đình là một khái niệm để chỉ hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có tính chất hành chính và địa lý.
Trong đó, gia đình là một nhóm người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (kể cả nhận con nuôi) vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của mình, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội (Phan Văn Thạng, 2008). + Nông hộ là gia đình sống bằng nghề nông. F (1998), kinh tế hộ nông dân có thể tóm tắt như sau: "Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường".
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm của nông nghiệp hàng hóa Nông nghiệp là một lĩnh vực rất phong phú. Nông dân sống ở khu vực nông nghiệp gắn liền với nông thôn, sản xuất gắn liền với thiên nhiên, với môi trường và gặp nhiều rủi ro, đặc biệt là đối với nước chưa phát triển, khoa học kỹ thuật còn lạc hậu. Người nông ở đây, họ vừa là những người sản xuất vừa là những người tiêu thụ sản phẩm của chính bản thân họ làm ra.
Bởi vậy, tính phối hợp liên ngành (cung ứng vật tư, chế biến, tiêu thụ sản phẩm) còn ở mức độ thấp, đóng góp từ khu vực nông nghiệp và thu nhập quốc dân chưa cao và bất ổn định. Hình thành những đơn vị kinh tế không thuần nhất, số lượng những đơn vị kinh tế thực hiện một chức năng kinh tế giống nhau giảm xuống, số lượng những ngành kinh tế riêng biệt tăng lên. Công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, sản xuất và trao đổi hàng hóa trở thành phổ biến, các ngành kinh tế mới trong nội bộ ngành nông nghiệp mới có điều kiện phát triển mạnh, thị trường từng bước được mở rộng dẫn đến ngành công nghiệp ngày càng tăng lên và tách ra khỏi ngành nông nghiệp. Xu hướng phát triển này không những biến việc sản xuất mang tính riêng biệt tạo ra những sản phẩm riêng lẻ mà còn sản xuất bộ phận riêng của sản phẩm, cá biệt có từng thao tác trong việc chế biến sản phẩm thành một ngành công nghiệp hoặc dịch vụ riêng.
Quá trình này đồng thời cũng diễn ra trong nội bộ ngành nông nghiệp dẫn đến nảy sinh những khu vực nông nghiệp chuyên môn hóa, đưa tới sự trao đổi sản phẩm nông nghiệp lấy sản phẩm công nghiệp, giữa những sản phẩm nông nghiệp với nhau. Xã hội ngày một phát triển dẫn đến sự phân công và ra đời lĩnh vực thương nghiệp. Ban đầu thương nghiệp chỉ đón những sản phẩm thừa ra, về sau nó tác động vào nền sản xuất, hướng sản xuất vốn nhằm vào nhu cầu tiêu dùng trực tiếp chuyển sang sản xuất nhằm vào thị trường và từng bước sát nhập lưu thông thành một khâu của quá trình tái sản xuất và thị trường ngày càng mở rộng. Sự phát triển của sản xuất hàng hóa sẽ chấm dứt tình trạng phân chia của những đơn vị kinh tế nhỏ (trong kinh tế tự nhiên) và sẽ tập hợp các thị trường nhỏ địa phương thành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 một thị trường lớn trong cả nước và sau đó trên thế giới.
Theo quá trình phát triển thì tất yếu của sản xuất xã hội là kinh tế tự nhiên sẽ chuyển thành kinh tế hàng hóa, các ngành kinh tế chuyên môn hóa có sự gắn kết nhau hơn. Kinh tế hàng hóa phát huy được tính năng động, sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế; tạo điều kiện cho sự tự do phát triển toàn diện của cá nhân; tạo ra những cơ chế phân bổ và sử dụng các nguồn lực của xã hội có hiệu quả. Kinh tế hàng hóa phát triển sẽ thúc đẩy và mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng cả nước và giữa các quốc gia toàn cầu trên cở sở tôn trọng, hợp tác với nhau và cùng phát triển. Syrquin (2006) việc chuyển đổi cơ cấu là đặc tính của quá trình phát triển, cả hai nguyên nhân và tác động của tăng trưởng kinh tế.
Tính ƣu việt của nông nghiệp hàng hóa Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội là sản phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người. Bởi vậy nó có nhiều ưu thế, và là một phương thức hoạt động kinh tế tiến bộ hơn hẳn so với sản xuất tự cấp tự túc. Nó làm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội. Nó thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh tróng làm cho sự phân công chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hoá chặt chẽ hình thành các mối liên hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau của những người sản xuất hình thành thị trường trong nước và thế giới.
Tạo sự thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, đó là cơ sở để thúc đẩy quá trình dân chủ hoá, bình đẳng và tiến bộ xã hội. Ở các nước có quy mô trang trại nhỏ và có khả năng vẫn như vậy trong nhiều thập niên do áp lực dân số và các quyền tài sản không an toàn, đa dạng hóa từ sản xuất lương thực chủ yếu cho hàng hóa có giá trị cao hơn sẽ là bước đầu tiên trong quá trình này. Bước tiếp theo sẽ được di chuyển ngoài sản xuất hàng hóa cơ bản để truy cập các chuỗi cung ứng giá trị gia tăng cho ngành bán lẻ hiện đại, đặc biệt là các siêu thị, nơi mà các giá trị gia tăng đi kèm trong các hình thức chất lượng, kịp thời, an toàn thực phẩm, và các tiêu chuẩn lao động trong sản xuất. Đây là những yếu tố cao quản lý chuyên sâu và cũng có thể đóng góp cho nền kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 của quy mô sản xuất mà không được nhìn thấy trong sản xuất hàng hóa một mình (Timmer, 2004; Reardon và Timmer, 2007).
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – đa dạng hóa sản xuất Theo H. Chenery (1988), khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm. Ngoài ra còn các quá trình kinh tế xã hội kèm theo như đô thị hoá, biến động dân số, thay đổi trong việc thu nhập. Khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế được sử dụng đồng nghiã với cụm từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế được một số tài liệu nghiên cứu khác sử dụng, về bản chất chỉ sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế (change hay transformation).
Fisher (1935) phân biệt ba khu vực kinh tế Sơ cấp (nông nghiệp), Cấp hai (công nghiệp) và Cấp ba (dịch vụ) và trong sự phát triển việc làm và đầu tư chuyển từ khu vực sơ cấp sang cấp hai và một phần sang cấp ba. Clark (1940) phát triển thêm cho rằng chính năng suất lao động trong các khu vực đã quyết định việc chuyển lao động từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao.