mở đầu cho thời kỳ “chiến tranh trên bở vực" giữa hai siêu cường - Chiến tranh Lạnh. Từ năm 1945 đến trước tháng 3 năm 1947, Hoa Kỷ và Liên Xô đều đem đến sự đe dọa, hành động cứng rắn giảnh cho đối phương mã chưa hễ phát động chiến tranh Lạnh. Một số các sự kiện và hành động của Liên Xô tử sau Chiễn tranh thê giới thứ hai đã tác động lớn đến sự kiện tháng 3 năm 1947, thông điệp của Truman phát biểu trước Quốc hội Mỹ đã mớ đầu cho thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Năm 1946, Tổng thống Truman đã viết thư cho Ngoại trưởng James Bymes về việc ông đã đưa ra đường lối quá mềm mỏng đối với Moscow, Truman vi "Trừ khi Nga phải ¡ mặt với nắm đấm sắt và ngôn ngữ mạnh mẽ, một cuộc chiến khác sẽ xây ra.
Tôi mệt mí ì phải chiều chuộng Liên Xô rồi (Gasiorowski & Byrne, 2004, p. Đáp trả về phía Hoa Kỳ, Stalin đã có một bài phát biểu tô rõ sự cham đứt cho mỗi quan hệ đồng minh thời chiến, tái khẳng định chủ nghĩa Mác Lênin, chi trích phương Tây và lời kêu gọi nhân dan Liên Xô sẵn sảng cho một cuộc chiến trong tương lai (Gasiorowski & Byme, 2004, p. Thắm phán Tỏa án Tối cao William O. Douglas đã gọi đó là "Lời tuyên bố về Thế chiến 3” (Gasiorowski & Byme, 2004, p.
Đầu tháng 3/1946, cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đã có bài phát biểu nỗi tiếng "Bức mản sắt" ở Fulton, Missouri với những lời lên án chính sách của Liên X6: “Tir Stettin 6 Baltic ti Trieste & Adriatic, một bức màn sắt đã buông xuống trên khắp lục địa” (Nguyễn Thị Kim Phụng, 2018). Cựu Thủ tướng đã không ngừng ca ngợi nước Mỹ đang đứng "ở đỉnh cao của quyền lực thế giới” trước sự chứng kiến của Truman và bắt đầu lên án. cảnh báo về chính sách bành trướng của Liên Xô. Ngoài "bức màn sắt” đã buông xuống Đông Âu, ông còn nói về "đạo quân thứ năm của cộng sản” đang hoạt động trên khắp Tây Âu và Nam Âu (Nguyễn Thị Kim Phụng, 2018).
sự phát triển của Liên Xô củng một hệ thống đổi lập với phương Tây đã khiến cho Hoa Kỳ bắt đầu lo ngại mỗi đe dọa tiểm tảng này, Do đó, dù đã thiết lập hệ i Thé cl ï siêu cườ thức được vai trò lãnh đạo, hệ thống mả mình đang đại diện không thể cùng tốn tại. Hoa Kỳ đã bất đầu những động thái tử lời nói cho đến những hành động cứng rắn chống Liên Xô thông qua thông điệp của Tổng thống Truman đánh dấu thời kỳ chạy đua quyết liệt nhất giữa hai siêu cường, Cùng với lời nói, Liên Xô đang cỏ những hành động nhằm thay đối cần cân quyền lực vẻ phía mình như việc can thiệp, mở rộng quyền ảnh hưởng, kiểm soát đến Azerbaijan (phia Bắc Iran). Liên Xô đã hậu thuẫn, thành lập nước Công hòa Dân chi: Azerbaijan; đến ngảy phải rút quản khỏi miễn Bắc Iran (theo thỏa thuận với Shah Iran), lực lượng Hồng quân Liên Xô gây nhiễu trở ngại cho chính quyền Tehran thiết lập và gỡ bỏ các chính phủ tự trị. do Liên Xô hỗ trợ.
Iran, dưới sự khuyến khích của Washington, đã dua vin dé nảy lên Liên Hợp Quốc (vừa mới thành. lập vào 10/1945) nhằm giải quyết. Thủ tướng Iran lúc đó là Ahmad Qavam đã tới Moscow để thỏa thuận về vấn để dẫu mỏ, đến tháng 5/1946, Stalin mới hoàn tắt việc. rút quân khỏi Azerbaijan (Gasiorowski & Byme, 2004, p.
Mặc dù đã rút quần theo thỏa thuận, Liên Xô vẫn duy tri sự ảnh hưởng, kiểm soát tại Iran. Sự can thiệp. của Liên Xổ vào Iran là một trong những hành động đáp trả đầu tiên về phía Nhà Trắng. Chưa dừng lại ở Iran, Liên Xô tiếp tục lôi kéo, giành quyền kiểm soát ở Thỏ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp.
Vào tháng 8/1946, Liên Xô yêu cầu Thổ Nhĩ Kỳ cấp quyễn quân sự để vào eo biển Dardanelles. Trước đề xuất của Điện Kremli vẻ việc bảo vệ eo biển với Thỏ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ hiểu rõ đây là một động thải nhằm phục vụ cho mục đích của Liên Xí tiếp cận tới Địa Trung Hải thông qua Biển Đen hay như Truman viết sau nay: "theo diễn biến tự nhiên của các sự kiện, kết quả là Hy Lạp vả toàn bột vùng. Cận và Trung Đông nằm dưới sự kiểm soát của Liên Xô” (Gasiorowski & Byme, 2004, p. Ở Hy Lạp, cuộc nội chiến bùng nỗ vào cuối tháng 11/1946, mặc dù chưa nhận thấy được bình bỏng của Liên Xô “nhúng tay” vào đất nước này nhưng các quan chức Hoa Kỳ đã sớm nhận thấy điều tương đồng đã diễn ra ở Azerbaijan (phía Bắc Iran).
Ho sớm nhận thấy sự tổn tại của Đảng Cộng sản khuyến khích phong trảo ly khai ở phia Bắc Hy Lạp. Diễu nảy khiến chính phủ Hoa Kỳ lo ngại không thể kiểm soát được sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản, sự ải nh hướng của Liên Xô sang các đặc biệtlà “Các quốc gỉ : ộ h huang của Moscow (Lé Phung Hoang, 2009, tr. Sự lo ngại của Washington đã sớm thúc đẩy cho những hành động nhằm thu. hẹp ảnh hưởng của Liên Xô đổi với *Các quốc gia mạn Bắc”.
Với trường hợp của Hy Lap và Thổ Nhĩ Kỳ, Tổng thông Truman đã yêu cẩu Quốc hội Mỹ viện trợ khẩn cấp “NothersTie Si” gm HỆ Lợp, Thể Nhĩ Ký vã re 400 triệu USD cho hai nước nảy thông qua học thuyết mang tên ông (Truman Doetine), điều nảy giúp cho hai nước này không “ngả” về phía Liên Xô. Học thuyết Truman ra đời ngày 12/3/1947 đã đánh dấu sự khởi phát của Chiến tranh Lạnh, thể hiện quan điểm cứng rắn của vị Tổng thông trước xu thể có quá nhiều quốc gia chưa biét “nga” theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Còn với Iran, Hoa Kỷ cũng khẳng định vị thế của mình các khoản đầu tư: Ngày 20/6/1947, Mỹ kí với Iran một hiệp định về việc Mỹ sẽ cung cấp viện trợ. viện trợ kính tế, Ngày 22/10/1947, Quốc hội Iran thông qua “Bao luật phục hồi quyền của nhân dân Iran di voi các tải nguyên tự nhiên của minh”.
văn kiện pháp li này, Quốc hội đã biểu quyết bác bỏ bản Hiệp định mà Liên Xô và Iran kí ngày 4/4/1946, trong lúc vẫn để nguyên hợp đông nhượng quyền khai thác dẫu lửa đã kí với Anh hỗi thập niền 1930, Dù quan hệ giữa Liên Xô và Iran vi thể mã trở nên căng thing, Chính phủ Moskva không tìm cách can thiệp. (Lê Phụng Hoàng, 2009, tr51) Đầu năm 1950, quan hệ giữa Iran vả Anh ngày càng xấu đi khi công ty dầu Anh-lran (AIOC) không đem lại sự thỏa thuận có lợi cho phía Iran; này khiến ‘i i ết định quốc hữu hóa lu mỏ, Trước những diễn biến chung của cuộc tranh chấp Anh-Iran, chinh quyền Truman nhận thấy sự hiện điện của Hoa Kỳ lả cần thiết bởi: các công ty đầu mỏ của Hoa Kỷ cũng chịu sự ảnh hưởng trong cuộc tranh chấp ở Trung Đồng. xung đột giữa Anh và tran khong có lợi cho phương Tây mả chỉ có lợi cho sự tồn tại của Liên Xô? và cuối cùng, bồi cảnh đó sẽ tạo điều kiện cho Đảng Cộng sản (Tudeh) lên năm quyền 6 Teheran (Lé Phụng Hoảng, 2009, tr. Chinh quyển Truman đã can thiệp vào tranh chấp Anh- Tran, ban sự thu xếp đến từ Washington chưa đem lại sự én thỏa đặc biệt vào cuối năm 1951-đầu năm 1952, sự ủng hộ của nhân dân Iran giinh cho Mohammad Mosaddegh vẫn quá lớn xoay quanh vấn đề quốc hữu hóa đầu mỏ, Thời điểm đó, Mohammad Mosaddegh dii tin tin tuyén bd: “Tha déc lp va sin xudt chi mdi một tấn dẫu một nám, hơn lả sản xuất 32 triệu tắn, nhưng vẫn là nô lệ của Anh” (Lê Phụng ˆ Liên Xã c th việnxào Hhận ốc đã kí năm 193) với ựn để đt quần vận miễn Húc nước nấy Hoang, 2009, tr.
Mai dén cuéi nim 1952, Hoa Kỳ phải đưa ra một sự ôn thỏa chắc. chắn trong điều kiện Mohammad Mosaddegh cắt đứt quan hệ với Anh, tiến tới trao. đổi thương mại với Liên Xô tăng đến 60% (Lê Phụng Hoàng, 2009, tr. Hoa Kỳ đã tính toán đưa ra một phương án mua chuộc Mohammad Mosaddegh, giúp giảm bớt căng thẳng Anh-Iran và thái độ không thân với Liên Xô nhưng những thỏa thuận ngay sau đó vẫn không được phia Anh, Iran thực hiện.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh- Anthony Eden đã cho rằng “chúng ta nên để tâm nhiễu hơn đến việt kiểm những phương phán thay thế Mosaddeq. hơn là lo mua chuộc ông ta" (Lê Phụng Hoàng, 2009, tr. Mọi nỗ lực giải quyết cuối củng của chính phủ Truman chưa mang đến kết cục cho vấn để Anh-lran, điều nảy chỉ có thẻ được vị Tổng thống kế nhiệm. Eisenhower thực hi bằng một cuộc đảo chính chính quyền Mosaddeq.
Nhu vay, từ khi Chiến tranh Lạnh được phát động. thể giới đã bao trùm sự phan cực rõ ràng giữa Hoa Ky vả Liên Xô, giữa Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa. Hai siêu cường nảy không đối đầu qua các cuộc chiến tranh trực tiếp, thay vào đó lả các cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” hoặc tranh giảnh quyền ảnh hưởng lên các khu vực của thể giới. Trung Đông, với sự tn tai cua Tran, lả một trong những điểm mà hai siêu cường hướng đến bởi tằm quan trọng chiến lược của quốc gia nảy, bởi nguồn dầu mỏ khủng lỗ, bởi những lợi ích quốc gia dân tộc mà hai bên tìm kiểm sự kiếm soát, Cuộc khủng hoáng & Azerbaijan (1945-1946) đã mình chứng rõ về sự can thiệp.
của Liên Xô vào vùng đất quan trọng nảy cùng những mong muốn kiểm soát giữa hai siêu cường, nhất là trong bối cảnh Chiến trạnh Lạnh ngảy cảng gia tăng, Với Liên Xô. "ngoài ệc sở hữu trữ lượng dẫu mỏ, Iran cỏn là vùng đệm quan trọng giữa Liên Xô với Vịnh Ba Tự, tiểu lục địa Án Độ” (Gasiorowski & Byme, 2004, p. Các quan chức Mỹ tin rằng Liên Xô đã mong muốn cỏ được một bến cảng, đặt các mỏ. dầu còn lớn hơn trên bán đảo Saudi, xa hơn hết là đe dọa đến các lợi ích quân sự và thương mại của Anh, Hoa Kỳ; với tham vọng to lớn đó, cá Washington và London đề Jin sang lam cho điều đó khôi ê xả i i & Byrne, 2004, p.
Tuy nhién, tir năm 1950, nhận thấy được trữ lượng dẫu mỏ không lễ ở Baku cùng việc muốn cái thiện quan hệ với Washington, Liên Xô không cồn can thiệp sâu vào. Iran, Điều này, tạo cơ hội cho Hoa Kỷ tiến sát tới chỉnh phủ Iran; đồng thời, Hoa Kỷ: từ chỗ không có quyền lợi đáng kế ở Iran, nay ngang hàng trong các hoạt động buôn ban dẫu mỏ. được xem là độc quyền đối với Anh tử lâu.