PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Hoạt động khoa học và công nghệ của nƣớc ta hiện nay mặc dù đã đạt đƣợc những thành tựu nhất định, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trƣởng kinh tế - xã hội, nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng tăng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để đƣa KH&CN Việt Nam thoát khỏi cơ chế bao cấp tồn tại nhiều thập kỷ, hƣớng tới một hệ thống KH&CN tự chủ, hiệu quả và hội nhập quốc tế.
Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã ban hành ngày 05/9/2005 nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức KH&CN công lập đổi mới phƣơng thức hoạt động, tăng cƣờng trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo, gắn nghiên cứu khoa học với phát triển công nghệ trong sản xuất kinh doanh, thu hút đƣợc sự tham gia của xã hội trong quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN. Có thể coi đây là một chủ trƣơng có tính chất chìa khóa trong cải cách quản lý hoạt động KH&CN và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy lĩnh vực khoa học và công nghệ phát triển ở nƣớc ta hiện nay. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện, theo quy định trong lộ trình của Nghị định 115 /2005/NĐ-CP của Chính phủ đến hết ngày 30-12-2006, các tổ chức KH-CN phải xây dựng và phê duyệt xong đề án chuyển đổi, và đến cuối tháng 12-2009, tất cả các tổ chức KH-CN công lập trong diện chuyển đổi sẽ phải chuyển đổi thành một trong hai hình thức, hoặc là thành tổ chức KH-CN tự trang trải kinh phí hoặc là thành doanh nghiệp KH-CN. Nếu đơn vị nào không chuyển đổi đƣợc, sẽ giải thể hoặc sát nhập.
Hiện nay, lộ trình chuyển đổi đã triển khai thực hiện hết thời gian nhƣ dự kiến. Số đơn vị, tổ chức KH&CN cần phải chuyển đổi còn nhiều ( 55%), khả năng tồn tại và phát triển của các tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi không cao, đặc biệt là các tổ chức KH&CN khối địa phƣơng còn gặp nhiều khó khăn trong cơ chế chuyển đổi và hoạt động. Riêng vùng Đồng bằng Sông Cửu long, tuy có 9/13 tổ chức KH&CN của 13 tỉnh, thành phố (chủ yếu là các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN) đã có đề án đƣợc phê duyệt chuyển đổi, trong đó chỉ có 02/13 Trung tâm hoạt động đƣợc theo cơ chế tự hạch toán và đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thƣờng xuyên. Số trung tâm còn lại vẫn còn nhiều lúng túng, chƣa xác định rõ mô hình hoạt động.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vì sao Nghị định 115/2005/NĐ-CP ban đầu đƣợc xem nhƣ là « khoán 10 », là cơ hội « vàng » trong ngành khoa học và công nghệ nhƣng khi triển khai thực hiện các tổ chức KH&CN phải chuyển đổi lại thiếu « mặn mà » ?. Nguyên nhân nào làm chậm triển khai Nghị định 115/CP dẫn đến hiệu quả của chuyển đổi theo Nghị định chƣa đƣợc nhƣ mong muốn? Phải chăng đang còn tồn tại khá nhiều bất cập, đó là : - Cơ sở vật chất của đa phần các tổ chức KH&CN đặc biệt khối địa phƣơng còn nhiều khó khăn. - Nguồn nhân lực vừa thiếu lại vừa yếu, các tổ chức KH&CN chƣa đủ khả năng để thực hiện nghiên cứu triển khai tạo sản phẩm có tính thƣơng mại cao. Bên cạnh đó, nguồn thu từ dịch vụ khoa học công nghệ cũng còn thấp và chƣa ổn định.
- Lộ trình thực hiện Nghị định 115 với thời gian quá ngắn cũng là một nguyên nhân, các địa phƣơng khó có thể chuẩn bị kịp các điều kiện cần thiết để đáp ứng. Do đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để các tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã gợi ý cho ngƣời viết đƣa ra ý tƣởng nghiên cứu đề tài : “Điều kện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ CP của Chính phủ đối với các tổ chức Khoa học và Công nghệ cộng lập hiện nay ”, với mong muốn sẽ góp phần làm rõ các vấn đề về lý luận, thực tiễn để khắc phục những bất cập trong lộ trình chuyển đổi cũng nhƣ bổ sung các điều kiện cần và đủ để thực hiện cơ chế chuyển đổi thành công theo Nghị định 115/CP. Ý nghĩa lý luận của đề tài : Đề tài đƣợc nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xác định điều kiện và lộ trình chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN phù hợp tình hình thực tế đất nƣớc ta hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện các điều kiện về cơ chế chuyển đổi, giúp các tổ chức KH&CN thực hiện đúng qui định về qui chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần tăng cƣờng tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nƣớc. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những giải pháp đƣợc đƣa ra có ý nghĩa thiết thực và phù hợp đối với các tổ chức KH&CN trong quá trình thực hiện cơ chế chuyển đổi. Lịch sử nghiên cứu. + Trung Quốc, trong những năm đầu của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội ( 1980) đã thực hiện các chính sách thể chế KH & CN nhằm khắc phục sự ngăn cách giữa KH&CN và sản xuất, chuyển một số viện nghiên cứu vào xí nghiệp và tổng công ty, cải tiến cơ chế lập kế hoạch KH&CN, tạo những biện pháp khuyến khích cho ứng dụng nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Nhà nƣớc Trung Quốc đã tiến hành cải cách thể chế KH&CN và đƣợc chia ra làm 04 giai đoạn : - Giai đoạn 1 : Cải cách thể chế bƣớc đầu ( 1985 – 1990) - Giai đoàn 2: Tiếp tục cải cách sâu hơn ( 1991 – 1993) - Giai đoạn 3 : Chuuyển đổi mạnh tổ chức đối với các viện và tăng khả năng thâm nhập thị trƣờng ( 1994 – 1999). - Giai đoạn 4 : Thay đổi cấu trúc hệ thống KH&CN (2000- đến nay). Việc tìm hiểu các kinh nghiệm chuyển đổi của Trung Quốc để vận dụng vào tình hình cụ thể của Việt Nam giúp ta tiết kiệm thời gian và nguồn lực trong nỗ lực chuyển đổi thể chế KH&CN nói chung và chuyển đổi các tổ chức KHCN nói riêng là một vấn đề đang rất bức xúc ở VN. Song, xét về lộ trình chuyển đổi của Trung Quốc là quá dài khó có thể áp dụng trong tình hình chuyển đổi của các tổ chức KHCN Việt Nam hiện nay.
+ Tại Việt Nam, việc triển khai và thực hiện cơ chế chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đối với các tổ chức KHCN công lập mới chỉ đƣợc áp dụng trong mấy năm gần đây. Vì vậy, chƣa có nhiều kinh nghiệm về mô hình hoạt động cũng nhƣ các tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên, gần đây đã có những bài viết về vấn đề này trong các diễn đàn khoa học, Hội nghị, Hội thảo khoa học, trên các báo và tạp chí nhƣ: - Bàn về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN ( Tạp chí KHCN, tháng 10/2007 ) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lƣợc, chính sách phục vụ quản lý nhà nƣớc của các bộ, cơ quan ngang bộ ( Nguyễn Tuấn Khanh). - Vài ý kiến về việc thực hiện nghị định 115 ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa ( Tạp chí KH&CN).
- Đại học từ Viện : Bài toán tự chủ và nhân sự (ViệtnamNet, 14/9/2007). Trong đề tài này, ngƣời viết kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên đồng thời đƣa ra một hƣớng tiếp cận nhằm khắc phục những bất cập làm hạn chế quá trình thực hiện cũng nhƣ hiệu quả chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KHCN hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu. Phân tích thực trạng hoạt động của các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN vùng ĐBSCL và vấn đề chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP đối với các tổ chức KH&CN công lập.
Làm rõ các điều kiện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các tổ chức KH&CN công lập. Phạm vi nghiên cứu - Đề tài tiến hành nghiên cứu các tổ chức KH&CN công lập khu vực Đồng bằng sông Cứu long (ĐBSCL) đang trong qúa trình thực hiện chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/CP. - Về phạm vi thời gian, luận văn giới hạn việc phân tích những hoạt động KH&CN của các trung tâm ứng dụng TB KH&CN các tỉnh ĐBSCL giai đoạn: (2005-2010). Mẫu khảo sát: Các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN vùng ĐBSCL ( 13 Trung tâm).
Vấn đề nghiên cứu. Việc thực hiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các tổ chức KH&CN công lập đã mở ra nhiều cơ hội, song cũng gặp không ít những thách thức và trở ngại. Nhiều tổ chức KH&CN công lập 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sau khi chuyển đổi vẫn không phát huy đƣợc ƣu thế của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Song song với quá trình thực hiện chuyển đổi, các chính sách đề cập trong Nghị định để hỗ trợ thúc đẩy năng lực hoạt động của tổ chức KH&CN cũng chƣa đƣợc triển khai kịp thời, thiếu sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và Chính quyền các cấp., điều đó đã dẫn đến đa số các tổ chức KH&CN sau chuyển đổi hoạt động kém hiệu quả.
Vậy, nguyên nhân của hoạt động kém hiệu quả đó là gì ? Từ đó, vấn đề đặt ra là : Điều kiện nào để chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN hoạt động có hiệu quả ? 7. Giả thuyết nghiên cứu Để giải quyết vấn đề trên, ngƣời viết sơ bộ đƣa ra các giả thuyết nhƣ sau : - Điều kiện để chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN là : 7. Các sản phẩm và dịch vụ KH&CN phải đƣợc thƣơng mại hóa. Đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô về KH&CN.
Phƣơng pháp nghiên cứu: - Phân tích tài liệu: Phân tích các nguồn dữ liệu từ thực trạng hoạt động của các tổ chức KH&CN. - Phƣơng pháp quan sát, tổng kết thực tiễn. - Phƣơng pháp nghiên cứu và so sánh hệ thống các văn bản pháp luận vể KH&CN đã ban hành. - Phƣơng pháp kiểm chứng giả thuyết.
Dự kiến luận cứ.