Tài liệu Kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam

Tìm hiểu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam, phân tích các yếu tố tác động và định hướng phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi tỷ trọng giữa các ngành kinh tế, từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đây là một xu hướng tự nhiên trong quá trình phát triển kinh tế của các thành phố và quốc gia. Cơ cấu kinh tế không chỉ phản ánh mức độ phát triển mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và tạo việc làm cho cộng đồng. Tại thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, sự chuyển dịch này diễn ra với nhịp độ nhanh trong giai đoạn 2012-2017, tạo nên những thay đổi đáng kể trong cấu trúc kinh tế địa phương. Việc nắm rõ quá trình này giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định phù hợp để thúc đẩy phát triển bền vững.

1.1. Định nghĩa cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là sự sắp xếp các ngành kinh tế theo tỷ trọng đóng góp vào GDP. Nó bao gồm ba ngành chính: nông-lâm-thủy sản, công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ. Cơ cấu này thường được đo lường thông qua giá trị sản xuất, thu nhập và số lượng lao động. Sự phân bổ giữa các ngành quyết định hình dáng của nền kinh tế địa phương và khả năng tạo sinh lợi nhuận lâu dài.

1.2. Tác động của chuyển dịch cơ cấu đến phát triển

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực: tăng năng suất lao động, cải thiện thu nhập bình quân đầu người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Quá trình này thường đi kèm với ứng dụng công nghệ, cơ sở hạ tầng hiện đại và môi trường kinh doanh thuận lợi. Các thành phố có cơ cấu kinh tế hợp lý thường đạt mức phát triển cao hơn và bền vững hơn.

II. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Tam Kỳ 2012 2017

Giai đoạn 2012-2017, thành phố Tam Kỳ đã trải qua quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáng kể. Tỷ lệ chuyển dịch từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên đáng kể, phản ánh sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Giá trị sản xuất tăng trưởng ổn định, với đóng góp từ ngành công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ ngày càng quan trọng. Thu nhập bình quân đầu người cũng tăng theo, chỉ ra rằng chuyển dịch này mang lại lợi ích thực tế cho cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những thách thức cần giải quyết để duy trì tốc độ phát triển.

2.1. Thay đổi cơ cấu theo ngành chính

Cơ cấu GTSX của Tam Kỳ chứng tỏ sự dịch chuyển rõ rệt. Ngành nông-lâm-thủy sản giảm tỷ trọng từ 35% xuống 22%, trong khi ngành công nghiệp-xây dựng tăng từ 38% lên 48%. Ngành thương mại-dịch vụ cũng có sự gia tăng đáng kể. Sự chuyển dịch này cho thấy quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa diễn ra hiệu quả.

2.2. Nhân tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu

Nhiều nhân tố đã góp phần vào quá trình chuyển dịch: đầu tư công nghiệp, cơ sở hạ tầng phát triển, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế. Điều kiện tự nhiên thuận lợi của Tam Kỳ cũng hỗ trợ sự phát triển. Ngoài ra, xu thế kinh tế-xã hội toàn cầu và sự tham gia của các doanh nghiệp ngoài nhà nước tạo động lực mạnh mẽ cho sự chuyển dịch.

III. Những kết quả đạt được và hạn chế trong quá trình chuyển dịch

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Tam Kỳ đã mang lại nhiều kết quả tích cực nhưng cũng để lại những hạn chế cần khắc phục. Mặt tích cực, giá trị sản xuất tăng trưởng liên tục, cơ cấu lao động được tối ưu hóa, và thu nhập bình quân đầu người cải thiện. Đánh giá tổng thể cho thấy quá trình chuyển dịch diễn ra theo hướng tích cực. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những tồn tại và hạn chế: cơ sở hạ tầng chưa đủ để hỗ trợ sự phát triển, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin chưa hoàn thiện. Nguyên nhân của những hạn chế này bao gồm: thiếu vốn đầu tư, hạn chế về khoa học công nghệ, và môi trường kinh doanh chưa đủ cạnh tranh.

3.1. Những thành tựu chính trong phát triển kinh tế

Thành phố Tam Kỳ đã ghi nhận nhiều thành tựu đáng kể: tăng trưởng GDP ổn định, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tăng công ích lao động. Số doanh nghiệp đăng ký tăng 40%, chứng tỏ sự phát triển của nền kinh tế. Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 1,5 lần so với đầu giai đoạn, thể hiện hiệu quả của quá trình chuyển dịch.

3.2. Những tồn tại và nguyên nhân chính

Mặc dù có tiến bộ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn gặp những hạn chế: công nghiệp còn lệ thuộc vào sử dụng lao động thô, chế biến chưa phát triển. Cơ sở hạ tầng còn yếu, ứng dụng công nghệ chậm chạp. Nguyên nhân chính: thiếu vốn đầu tư công, nhân lực chất lượng cao còn ít, môi trường kinh doanh cần cải thiện để hấp dẫn đầu tư.

IV. Giải pháp và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2025

Để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế bền vững, thành phố Tam Kỳ cần thực hiện các giải pháp chiến l略 toàn diện. Mục tiêu chính là tăng tỷ trọng ngành thương mại-dịch vụ lên 45%, nâng cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa. Định hướng chuyển dịch tập trung vào phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ cao cấp và nông nghiệp công nghệ cao. Cần hoàn thiện quy hoạch phát triển, huy động vốn đầu tư, nâng cao chất lượng nhân lực thông qua đào tạo. Ứng dụng khoa học công nghệcải cách thủ tục hành chính là chìa khóa quan trọng. Xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển sẽ tạo nền tảng vững chắc cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công.

4.1. Các mục tiêu và định hướng phát triển chính

Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến 2025 bao gồm: nâng tỷ trọng ngành dịch vụ-thương mại lên 45%, giảm ngành nông-lâm-thủy sản xuống 12%, duy trì ngành công nghiệp-xây dựng ở 43%. Định hướng tập trung vào phát triển công nghiệp chế biến nông sản, dịch vụ du lịch, công nghệ thông tin. Cần tập trung vào bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

4.2. Các giải pháp thực hiện chuyên sâu

Giải pháp chính bao gồm: hoàn thiện quy hoạch phát triển đô thị, huy động vốn từ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, cải thiện môi trường kinh doanh thông qua cải cách thủ tục hành chính. Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện nước, viễn thông hiệu quả. Phát triển các ngành kinh tế gắn với bảo vệ môi trườngbảo tồn di tích văn hóa-lịch sử.

19/12/2025
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục; nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.nam 10 Chƣơng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Chƣơng 3: Một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.nam 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.

Cơ cấu kinh tế a. Khái niệm “Cơ cấu” là cách tổ chức các thành phần, nhằm thực hiện một chức năng của chỉnh thể nào đó. Từ “ cơ cấu” tƣơng ứng với thuật ngữ “cấu trúc” của Việt Nam hay mang nội dung rộng lớn hơn. Cấu trúc là khái niệm nòi về kết cấu bên trong của một đối tƣợng nào đó, kể cả số lƣợng và chất lƣợng tạo nên một đối tƣợng nào đó.

Cơ cấu kinh tế của xã hội theo học thuyết C.Mác là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lƣợng sản xuất vật chất.Mác đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lƣợng và số lƣợng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lƣợng của những quá trình sản xuất xã hội. Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh mà luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng. Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu các quy luật khách quan, thấy đƣợc sự vận động phát triển của lực lƣợng sản xuất xã hội để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với những mục tiêu chiến lƣợc kinh tế xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định. Nhƣ vậy, CCKT đƣợc hiểu là tổng thể những nhân tố cấu thành nền kinh tế, bao gồm các ngành, các thành phần kinh tế và các vùng kinh tế.

Chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau đƣợc biểu hiện về chất và lƣợng tùy thuộc vào mục tiêu của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải có các bộ phận kết hợp một cách hài hoà, cho phép khai thác tối đa các nguồn lực của đất nƣớc một cách có hiệu Chuyen.nam 12 quả, đảm bảo nền kinh tế tăng trƣởng với nhịp độ cao và phát triển ổn định, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của ngƣời dân. Nhìn chung, cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, là một thế trận kinh tế thể hiện mối quan hệ nội tại giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế sao cho các nguồn lực sản xuất kết hợp chặt chẽ, hợp lý với nhau vừa đảm bảo yêu cầu trƣớc mắt vừa tạo thế cho nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển ổn định, bền vững [23], [30]. Phân loại cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế có nhiều loại, mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trƣng của các bộ phận và các cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân.

Các loại cơ cấu kinh tế này có mối quan hệ gắn kết, tƣơng tác với nhau. Việc phân chia các loại cơ cấu nhƣ trên không phải là cách phân chia duy nhất. Thực tế, tuỳ mục đích nghiên cứu mà có thể phân chia theo những cách khác nhau. Nền kinh tế quốc dân dƣới giác độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại cơ cấu khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá trình phát triển kinh tế.

Những loại cơ cấu kinh tế cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc dân bao gồm: - Cơ cấu ngành kinh tế - Cơ cấu vùng, lãnh thổ kinh tế - Cơ cấu thành phần kinh tế * Cơ cấu ngành kinh tế: là tổng thể những mối quan hệ về số lƣợng (số lƣợng ngành, tỷ trọng) và chất lƣợng giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, có rất nhiều cách phân loại cơ cấu ngành kinh tế. Để thống nhất tiêu chuẩn phân loại ngành giữa các nƣớc, Liên hiệp quốc đã ban hành “Hƣớng dẫn phân loại ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đối với toàn bộ các hoạt Chuyen.nam 13 động kinh tế”. Tiêu chuẩn phân loại ngành của Liên hiệp quốc có thể khái quát thành ba nhóm ngành lớn: Khu vực I (KV I): Nông – lâm – ngƣ nghiệp.

Khu vực II (KV II): Công nghiệp, xây dựng. Khu vực III (KV III): Thƣơng mại và dịch vụ. Quan điểm của nƣớc ta hiện nay, các ngành cấu thành khu vực I, khu vực II, khu vực III nhƣ sau: KVI gồm có nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Trong đó nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ; còn lâm nghiệp có trồng, chăm sóc rừng và khai thác lâm sản; Thủy sản có đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản.

KVII gồm có công nghiệp và xây dựng. Trong đó công nghiệp lại phân làm nhiều ngành thuộc 3 nhóm: Công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nƣớc. KVIII là tập hợp của nhiều ngành liên quan đến dịch vụ với chung một đặc điểm là các sản phẩm đƣợc tạo ra không tồn tại dƣới dạng hình thái vật thể bao gồm khách sạn và nhà hàng; vận tải kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính tín dụng; hoạt động khoa học và công nghệ; các hoạt động liên quan tới kinh doanh tài sản và dịch vụ tƣ vấn; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội; hoạt động văn hóa, Đảng, Đoàn thể, thể thao…. * Cơ cấu vùng, lãnh thổ Ở mỗi Quốc gia do những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau nên trong quá trình phát triển đã hình thành các vùng kinh tế sinh thái khác nhau.

Cơ cấu vùng – lãnh thổ kinh tế biểu hiện sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ trên phạm vi cả nƣớc. Cơ cấu này đƣợc xem là nhân tố hàng đầu để tăng trƣởng và phát triển bền vững các ngành kinh tế đƣợc phân bố ở vùng. Việc xác lập cơ cấu kinh tế vùng – Lãnh thổ một cách hợp lý nhằm phân bố Chuyen.nam 14 trí các ngành sản xuất trên vùng – lãnh thổ sao cho thích hợp để triển khai có hiệu quả mọi tiềm năng và lợi thế của từng vùng. Việc bố trí sản xuất ở mỗi vùng không khép kín mà có sự liên kết với các vùng khác có liên quan để gắn với cơ cấu kinh tế của cả nƣớc.

Thông thƣờng cơ cấu này bao gồm cơ cấu khu vực kinh tế thành thị và nông thôn, khu vực kinh tế trọng điểm và phi trọng điểm, khu vực kinh tế đồng bằng và miền núi… * Cơ cấu thành phần kinh tế CCKT theo thành phần kinh tế là cơ cấu kinh tế theo khu vực sở hữu về tƣ liệu sản xuất. Nƣớc ta chủ trƣơng xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đã hình thành nên 3 khu vực sở hữu chính: kinh tế nhà nƣớc, kinh tế ngoài nhà nƣớc (tập thể, tƣ nhân và cá thể) và khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Các thành phần kinh tế đƣợc xác định với vai trò khác nhau trong đó lấy kinh tế Nhà nƣớc, kinh tế tập thể làm nền tảng và đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Điều này tạo ra tính đặc thù trong chiến lƣợc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng nhƣ trong mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia.

- Khu vực Kinh tế Nhà nƣớc, gồm hệ thống các DNNN là trụ cột của nền kinh tế với nhiều ngành sản xuất kinh doanh quan trọng trong các lĩnh vực hạ tầng cơ sở, an ninh quốc phòng, các ngành công nghiệp mũi nhọn…; Cung cấp những sản phẩm, dịch vụ có ý nghĩa quyết định lớn tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, khu vực này cũng đã bộc lộ những hạn chế nhƣ hiệu quả đầu tƣ thấp, công nghệ lạc hậu… - Khu vực kinh tế ngoài nhà nƣớc: có quy mô nhỏ, năng động; tuy nhiên, có những hạn chế nhƣ công nghệ thô sơ, cạnh tranh yếu, ít có cơ hội để thực hiện quá trình hợp tác phát triển với các quốc gia khác. - Khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: Khả năng cạnh tranh lớn, Chuyen.nam 15 tiếp cận thị trƣờng tốt, tiềm năng huy động vốn lớn, khả năng hợp tác phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế cao, nhƣng khu vực này đòi hỏi chi phí đầu tƣ lớn, ít hiểu biết về thị trƣờng, những thế mạnh về tài nguyên, lao động của Việt Nam. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Không chỉ ở các nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển mới có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Ngày nay, chính các quốc gia có nền kinh tế công nghiệp phát triển cũng phải thƣờng xuyên điều chỉnh cơ cấu kinh tế để tiếp tục phát triển và hòa nhập với nền kinh tế thế giới. Chuyển dịch cơ cấu là quá trình phát triển của các bộ phận kinh tế, dẫn đến sự tăng trƣởng khác nhau giữa chúng và làm thay đổi mối quan hệ tƣơng quan giữa chúng so với một thời điểm trƣớc đó. Sự thay đổi này là kết quả của quá trình: Xuất hiện hay mất đi một số yếu tố kinh tế, tức là có sự thay đổi về số lƣợng các bộ phận của nền kinh tế. Sự tăng trƣởng với nhịp độ khác nhau giữa các bộ phận trong nền kinh tế đã dẫn tới thay đổi cơ cấu và phát triển không đồng đều giữa các bộ phận sau mỗi giai đoạn.

Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận. Các bộ phận có thể tác động thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nhau. Sự tăng trƣởng của các bộ phận dẫn đến thay đổi cơ cấu trong mỗi nền kinh tế. Cho nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế xảy ra nhƣ là kết quả của quá trình phát triển.

Đó là quy luật tất yếu từ xƣa đến nay trong hầu hết mọi nền kinh tế. Nhƣ vậy, chuyển dịch cơ cấu là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo thời gian từ trạng thái và trình độ này tới một trạng thái và trình độ khác phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và các điều kiện vốn có nhƣng không lặp lại Chuyen.nam 16 trạng thái cũ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ