Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TẠI ĐỊA PHƯƠNG CẤP HUYỆN 1. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế, một phạm trù kinh tế có tầm quan trọng to lớn trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh t ế - xã h ội của mỗi quốc gia qua các thời kỳ. Cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép t ạo nên sự cân đối, hài hòa của nền kinh tế để sử dụng một cách hi ệu qu ả các nguồn lực, tài nguyên. Điều đó có ý nghĩa to lớn đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của nền kinh tế quốc dân.
Thuật ngữ “cơ cấu” hay “cấu trúc” có nguồn gốc ban đầu từ chữ La tinh “Strucke”, được sử dụng để phản ánh cách sắp xếp các bộ phận c ủa một chỉnh thể. Sau đó các khái niệm này được sử dụng mở rộng hơn cho các ngành khoa học khác (Vũ Đình Thắng, 2002). Theo quan điểm triết học, “cơ cấu” hay “kết cấu” là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của đối tượng, là tập hợp những mối liên hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng, trong một thời gian nhất định. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ th ống C.Mác tiếp cận cơ cấu nền kinh tế như là: Toàn bộ các quan hệ giữa những người làm nhiệm vụ sản xuất với nhau và giữa họ với tự nhiên.
Mác còn phân tích cơ cấu kinh tế ở cả hai mặt: số lượng (quy mô, tỷ trọng tốc độ) và chất lượng (vị trí, sự tương tác, trình độ công nghệ.) Đó là biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế, và theo C.Mác cơ cấu là một sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số l ượng của quá trình sản xuất xã hội (Vũ Đình Thắng, 2002). Như vậy, theo C.Mác, cơ cấu nền kinh tế có cấu trúc bao gồm những yếu tố gắn với lực lượng sản xuất (các quan hệ giữa họ với tự nhiên, kỹ 8 thuật) và các nội dung của quan hệ sản xuất (các quan hệ kinh t ế gi ữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội) h ợp thành. Nếu cơ cấu nền kinh tế bao gồm hai mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì khi phân tích cơ cấu kinh tế không thể xem xét mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Một cơ cấu kinh tế được coi là đúng đắn là một cơ cấu kinh tế được hình thành và phát triển trong đó, các yếu tố của quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (Vũ Đình Thắng, 2002).
Với quan niệm trên thì cơ cấu của nền kinh tế quốc dân được hiểu là tổng thể các mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế: Các lĩnh vực sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,.; các thành phần kinh tế - xã hội: Nhà nước, tập thể, tư nhân.; ở vùng kinh tế. Ở mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi địa phương lại có cơ cấu kinh t ế riêng, tùy theo điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế, xã hội cụ thể. Trong tiếp cận cơ cấu kinh tế đồi hỏi phải xem xét các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong trạng thái có tính tương đối ổn định, lịch sử cụ thể, phát triển theo đúng các quy luật khách quan, nhất là mối quan hệ chứa đựng trong đó quan hệ sản xuất ph ải phù h ợp v ới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Chính tính tương đối ổn định này làm cho cơ cấu kinh tế biến đổi trong giới hạn cho phép, mà nếu vượt qua giới hạn đó, hệ thống kinh tế - xã hội chuyển sang một tr ạng thái ổn đ ịnh khác, nói về chất hoặc thậm chí có thể biến đổi sang loại hình cơ cấu khác.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra những khía cạnh không thể thiếu được khi tiếp cận khái niệm cơ cấu kinh tế: - Bao gồm các bộ phận cấu thành mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra thông qua mối quan hệ kinh t ế giữa các ngành và nội bộ các ngành, giữa các vùng kinh tế và giữa các thành phần kinh tế với nhau. 9 - Được xem xét trên cả hai mặt định tính và định lượng của từng yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Đặt cơ cấu kinh tế trong điều kiện lịch sử của mỗi n ước, m ỗi đ ịa phương, mỗi ngành trong từng thời kỳ nhất định. - Gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội được xác đ ịnh trong từng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ đó ta có thể định nghĩa như sau: Cơ cấu kinh tế có ta có thể định nghĩa như sau: Là cơ cấu kinh tế - xã hội được xác định trong từng thời các bộ phận, gắn với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát tri ển nhất định, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã h ội đã đ ược xác đ ịnh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Vũ Đình Thắng, 2002). Có 3 loại cơ cấu kinh tế sau: +) Cơ cấu ngành là mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành kinh t ế trong nền kinh tế như nông nghiệp (bao gồm: nông, lâm và ngư nghiệp), công nghiệp (bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn) và dịch vụ. +) Cơ cấu kinh tế vùng là tỷ lệ phân bố của các ngành kinh t ế theo lãnh thổ vùng sao cho thích hợp và sử dụng có hiệu quả lợi thế của vùng. +) Cơ cấu các thành phần kinh tế: bao gồm kinh tế quốc doanh, t ập thể, tư nhân, cá thể hộ gia đình.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu và khả năng sản xuất và m ở r ộng th ị tr ường mà cơ cấu thành phần kinh tế được xác lập, kết hợp đan xen nhau (Vũ Đình Thắng, 2002). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là: “Quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống sản xuất theo những định hướng và 10 mục tiêu nhất định”, nghĩa là đưa hệ thống sản xuất từ một trạng thái nhất định tới trạng thái phát triển tối ưu để đạt được hiệu quả mong muốn cao hơn, thông qua sự điều khiển có ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng hợp lý các quy luật khách quan (Đỗ Hoài Nam, 1996). Thực chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều chỉnh tỷ trọng giữa các ngành kinh tế.
Ngành có lợi thế, có hiệu quả trong n ền kinh t ế thì sẽ được điều chỉnh theo hướng tăng tỷ trọng và ngược lại, ngành không có lợi thế, ít có khả năng nâng cao hiệu quả sẽ được điều chỉnh theo h ướng giảm tỷ trọng. Độ dịch chuyển cơ cấu thường thay đổi nhiều trong thời kỳ tăng trưởng nhanh vì khi đó sự chênh lệch về tốc độ giữa các bộ phận sẽ lớn. Khi tăng trưởng thấp độ dịch chuyển cơ cấu sẽ chậm hơn do sự chênh lệch trong tốc độ phát triển của các bộ phận sẽ không lớn (Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh, 2013). Đặc điểm cơ cấu kinh tế a) Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử Cơ cấu kinh tế phản ánh quy luật chung của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, có sự khác biệt tương đối ở mỗi địa phương, vùng mi ền và trong mỗi giai đoạn lịch sử phát triển.
Lịch s ử phát tri ển kinh t ế - xã h ội của nhân loại đã cho thấy cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến mà luôn ở trạng thái vận động và không ngừng biến đổi, phát triển. Do tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng d ụng công ngh ệ mới, do sự phát triển của khoa học quản lý và ứng dụng nó trong thực tiễn hoạt động kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế cũng theo sự phát triển đó mà ngày càng hoàn thiện hơn. Nền kinh tế tự nhiên bao giờ cũng thể hiện các cơ cấu kinh tế tự nhiên. Theo đà phát triển của xã hội, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng, cơ cấu kinh tế ngày càng tiến bộ.
Cơ cấu kinh tế cụ thể trong hệ thống kinh t ế 11 cũng như xu hướng chuyển dịch của chúng ra sao là tuỳ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội, những điều kiện tự nhiên nhất định. Các quy luật kinh tế được biểu hiện và vận động thông qua hoạt động của con người. Vì vậy, con người trước hết phải nhận thức đầy đủ các quy luật kinh tế cũng như các quy luật tự nhiên để từ đó góp phần vào việc hình thành, biến đổi và phát triển cơ cấu kinh tế sao cho cơ cấu đó ngày càng h ợp lý, đem l ại hiệu quả cao. Như vậy, việc hình thành và vận động của cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải tôn trọng tính khách quan và không được áp đặt chủ quan, duy ý chí.
b) Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan Cơ cấu kinh tế tồn tại và phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã h ội, tuỳ thu ộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội và tự nhiên nhất định, mà ít phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã và đang phát triển không ngừng, những thành tựu của nó đem lại sự biến đổi sâu sắc trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Trong đi ều ki ện đó nông nghiệp và kinh tế nông thôn đang chịu ảnh hưởng to l ớn c ủa nh ững tiến bộ khoa học và công nghệ do cuộc cách mạng đem lại. Việc ứng dụng các thành tựu của cách mạng khoa học và công ngh ệ, nh ất là cách m ạng sinh học đã tạo ra những giống cây, con mới có năng suất, chất lượng cao, mức độ thích nghi rộng hơn và đem lại hiệu quả kinh tế cao h ơn.