Chương 1: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2005 đến năm 2010. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2010 đến năm 2015. Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 2005 ĐẾN 2010 1. Những yếu tố tác động đến chủ trƣơng và sự chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh 1.
Điều kiện tự nhiên, văn hóa - xã hội tỉnh Quảng Ninh * Điều kiện tự nhiên: - Vị trí địa lý: Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Với diện tích tự nhiên trên 6.100 km2; giáp tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc ở phía Bắc; phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp thành phố Hải Phòng, tỉnh Hải Dương, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Lạng Sơn. Có 3 cửa khẩu trên đất liền (Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh) và 3 cảng khẩu trên biển (Cẩm Phả, Hòn Gai, Vạn Gia) [94]. Vị trí địa lý của Quảng Ninh thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội gắn với Thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn của khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ như Hải Phòng, Hải Dương, đồng thời là “cửa ngõ” của cả vùng đồng bằng sông Hồng, Trung du miền núi phía Bắc ra biển và nối với vùng duyên hải Nam Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái; là cầu nối của Việt Nam với các nước trong ASEAN, khu vực Đông Bắc Á.
Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, biên giới; đây là điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường tiêu thụ rộng lớn cả trong nước và ngoài nước. - Địa hình: Quảng Ninh là tỉnh miền núi – duyên hải (hơn 80% đất đai là đồi núi, hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi). Địa hình được chia thành 4 vùng rõ rệt: Vùng núi, vùng trung du và đồng bằng ven biển, vùng ven biển và hải đảo. Địa hình nói chung là rừng núi và biển đảo, có nhiều thung lũng, đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng lớn, gây khó khăn cho phát triển các ngành kinh tế.
Tuy nhiên, địa hình nơi đây tạo điều kiện thuận lợi cho Quảng Ninh phát triển kinh tế đa ngành, nếu biết khai thác tốt những lợi thế 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từng vùng, đặc biệt là biển đảo sẽ là điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh CDCCKT theo hướng công nghiệp và dịch vụ - du lịch. - Khí hậu: Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm đặc trưng cho các tỉnh miền Bắc nước ta, vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển, có mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều và mùa đông lạnh khô, ít mưa. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.500 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất là 280C, thấp nhất là 160C. Ngoài ra, do tác động của biển, nên khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác.
Đặc biệt, khí hậu ở Quảng Ninh cho phép phát triển ngành dịch vụ - du lịch và các ngành thế mạnh khác như đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản quanh năm với những giống, loài phong phú, đa dạng. - Sông ngòi và chế độ thuỷ văn: Quảng Ninh có một mạng lưới sông ngòi tương đối phong phú, phân bố đều trên khắp lãnh thổ và có một số đặc điểm như: Đại bộ phận sông có dạng xoè hình cánh quạt nhưng ngắn, nhỏ, độ dốc lớn. Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ. Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có bốn con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ.
Mỗi sông hoặc đoạn sông thường có nhiều nhánh, các nhánh đa số đều vuông góc với sông chính. Ngoài bốn sông lớn kể trên, Quảng Ninh còn có 11 sông nhỏ, chiều dài các sông từ 15 - 35 km; diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2 [94], chúng được phân bố dọc theo bờ biển. Các sông, suối là nguồn cung cấp nước, phù sa, thủy sản… tạo điều kiện để Quảng Ninh phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp. - Tài nguyên đất: Quảng Ninh có quỹ đất dồi dào với 611.081,3 ha, trong đó 75,370 ha đất nông nghiệp đang sử dụng; 146.019 ha đất lâm nghiệp với nhiều diện tích đất có thể trồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi; khoảng gần 20.000 ha có thể trồng cây ăn quả.
Trong tổng diện tích đất đai toàn tỉnh, đất nông nghiệp chỉ chiếm 10%, đất có rừng chiếm 38%, diện tích đất chưa sử dụng còn lớn (chiếm 43,8%) [94], tập trung ở vùng miền núi và ven biển, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Như vậy, với quỹ đất dồi dào, Quảng Ninh có thể phát triển kinh tế đa ngành. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tài nguyên nước: Quảng Ninh là tỉnh có tài nguyên nước khá phong phú, bao gồm nước mặt và nước ngầm. Nước mặt: Lượng nước các sông khá phong phú, ước tính 8.776 tỷ m3 phát sinh trên toàn lưu vực.
Nước ngầm: Theo kết quả thăm dò, trữ lượng nước ngầm tại vùng Cẩm Phả là 6.107 m3/ngày, vùng Hạ Long là 21. Quảng Ninh đã xây dựng được 30 hồ đập nước lớn với tổng dung tích là 195,53 triệu m3, phục vụ những mục đích kinh tế - xã hội của tỉnh như hồ Yên Lập (dung tích 118 triệu m3), hồ Chúc Bài Sơn (11,5 triệu m3), hồ Quất Đông (10 triệu m3). Nếu cộng tất cả Quảng Ninh có từ 2.000 ha mặt nước ao, hồ, đầm có điều kiện nuôi trồng thủy sản [94]. - Tài nguyên rừng: Quảng Ninh có 243.833,2 ha rừng và đất rừng (chiếm 40% diện tích đất rừng tự nhiên toàn tỉnh), trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 80%.
Còn lại là rừng trồng, rừng đặc sản khoảng 100 ngàn ha, đất chưa thành rừng khoảng 230 ngàn ha, là điều kiện để phát triển thành các vùng gỗ công nghiệp, vùng cây đặc sản, cây ăn quả có quy mô lớn. - Tài nguyên biển: Quảng Ninh có chiều dài bờ biển trên 250 km, diện tích vùng nội thuỷ rộng trên 6000 km2 [94]. Biển Quảng Ninh có các yếu tố môi trường đặc trưng, biển lặng, ít bị ảnh hưởng của gió bão, môi trường sạch, nước có độ muối cao, ổn định, độ trong lớn, nhiệt độ không xuống thấp, thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của hầu hết nhóm sinh vật. Tổng diện tích vùng triều và vùng nước biển có khả năng nuôi thuỷ sản biển trên 20.000 ha, gồm các eo vịnh kín gió xen kẽ các đảo nhỏ.
Quảng Ninh có cửa khẩu quốc tế và quốc gia, có cảng biển và nhiều đầu mối giao thông thuỷ bộ, nằm cạnh thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn là Trung Quốc, Hồng Kông… Ngư dân nơi đây đã bước đầu tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nuôi trồng thuỷ sản, tạo cho Quảng Ninh trở thành tỉnh có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi trồng, đánh bắt, khai thác, chế biến các loại thuỷ sản, đặc biệt thủy sản biển. - Nguồn lợi thủy sản: Quảng Ninh có nguồn thủy sản phong phú bao gồm cả nguồn lợi thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Với nguồn lợi thủy sản phong 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phú Quảng Ninh có thể phát triển ngành nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy hải sản. - Tài nguyên khoáng sản: Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, có nhiều loại đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước không có được như: than, cao lanh Tấn Mài, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi… Than đá: Có trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn, hầu hết thuộc dòng antraxít, tỷ lệ cácbon ổn định 80- 90%; tập trung tại 3 khu vực: Hạ Long, Cẩm Phả và Uông Bí - Đông Triều; mỗi năm cho phép khai thác khoảng 30 - 40 triệu tấn [96].
Các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh: trữ lượng tương đối lớn với đá vôi ở Hoành Bồ, Cẩm Phả; cao lanh ở Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, thị xã Móng Cái; đất sét ở Đông Triều, Hoành Bồ và Hạ Long. Bên cạnh than đá, các loại nguyên liệu là vật liệu xây dựng như đá vôi, sét, gạch ngói. rất phong phú và phân bố rộng khắp trong tỉnh. Mỏ đá vôi Hoành Bồ trữ lượng gần 1 tỷ tấn cho phép sản xuất xi măng vài chục triệu tấn/năm, đáp ứng nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng và đô thị hóa.
Các khoáng sản khác như: cao lanh Tấn Mài, Móng Cái; cát thủy tinh Vân Hải. đều là các mỏ lớn ở miền Bắc, có chất lượng cao, điều kiện khai thác thuận lợi, là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển công nghiệp phục vụ cho nhu cầu trong tỉnh, cả nước và xuất khẩu. Các mỏ nước khoáng: nước khoáng uống được phân bố ở Quang Hanh (Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Long (Bình Liêu). Nước khoáng không uống được tập trung ở Cẩm Phả có nồng độ khoáng khá cao, nhiệt độ trên 350C, dùng chữa bệnh.
Có thể nói, với vị trí địa lý đặc biệt gồm cả “rừng, núi và biển”, bên cạnh những khó khăn nhất định thì Quảng Ninh là một trong ít các tỉnh trong cả nước được thiên nhiên ưu đãi với vô vàn tài nguyên thiên nhiên phong phú có trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao, để Quảng Ninh phát triển các ngành kinh tế. Trong đó, phải 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kể tới thế mạnh khai thác tiềm năng khoáng sản (đặc biệt là than đá) và phát triển các ngành kinh tế gắn liền với khai thác nguồn lợi từ biển, là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo CDCCKT theo hướng công nghiệp và dịch vụ - du lịch. * Điều kiện văn hóa - xã hội: Quảng Ninh là mảnh đất có bề dày lịch sử và cách mạng. Nhân dân có truyền thống yêu nước, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Hiện nay, Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã, 8 huyện (có 2 huyện đảo). Theo số liệu thống kê năm 2005, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh là 1.0961 nghìn người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm 2005 là 1,3%.