phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận chia làm 3 chương. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: BƢỚC ĐẦU LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 – 2000 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng kinh tế nông nghiệp tỉnh Hà Nam trƣớc năm 1997 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tự nhiên: Hà Nam vốn thuộc phủ Lỵ Nhân, thuộc trấn Sơn Nam, năm 1831 vua Minh Mạng quyết định lập các tỉnh thì Phủ Lỵ Nhân đổi là phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội, xứ Bắc Kỳ.
Ngày 20 - 10 - 1890, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Hà Nam. Từ đó đến nay, đã có nhiều lần chia tách và sát nhập tỉnh, nhiều sự điều chỉnh về địa giới hành chính đã diễn ra: năm 1965 Hà Nam sát nhập với Nam Định thành tỉnh Nam Hà và sát nhập với Ninh Bình vào năm 1976 thành tỉnh Hà Nam Ninh rộng lớn, rồi lại chia tách tỉnh Nam Hà và Ninh Bình như cũ vào năm 1992 và ngày 1-1-1997 tỉnh Hà Nam được tái lập gồm các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên và thành phố Phủ Lý [60, tr. Nằm ở phía tây nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, trên tọa độ 200 vĩ Bắc và giữa 1050 - 1100 kinh độ Đông, Hà Nam là cửa ngõ phía Nam của thủ đô. Phía Bắc giáp với Hà Tây (nay là Hà Nội), phía Đông giáp với Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp với tỉnh Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp với Hòa Bình.
Với vị trí địa lý này, Hà Nam vừa kết nối với các tỉnh miền núi tây bắc của đất nước, vừa là địa bàn chuyển tiếp giữa các vùng kinh tế - lãnh thổ. Đặc biệt, sự phát triển của giao thông vận tải và sự mở rộng của thị trường đã hình thành không gian kinh tế mở với nhưng lợi thế về giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, tạo cho Hà Nam những thuận lợi so sánh về thị trường để 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khai thác có hiệu quả nguồn lực bên trong và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đất đai và địa hình Hà Nam tương đối đa dạng, vừa có thuận lợi vừa có khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Tổng diện tích là 851,5km2 (năm 2002) với hai loại địa hình chính là đồng bằng và đồi núi.
Phía tây là vùng núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núi đất và đồi rừng. Xuôi về phía đông là vùng đồng bằng được bồi tụ bởi sông Hồng, sông Đáy, sông Châu. Đất ở đây có độ phì trung bình, thuận lợi cho canh tác các loại cây trồng thuộc nhóm cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả và mở rộng diện tích đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa tác dụng với các hệ thống canh tác, tưới nước hoặc không tưới nước. Tuy nhiên, do quá trình kiến tạo địa chất và biến đổi khí hậu trong vùng nên Hà Nam có nhiều vùng đất trũng, thường xuyên ngập úng và bị phèn chua.
Với đặc trưng vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm là 23,40C. Lượng mưa trung bình là 1.900mm/ năm, phân bố không đều, khoảng 70% tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 9. Độ ẩm trung bình năm là 85%. Với hệ thống sông lớn chảy qua như sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu…cùng một số hồ, đập, đảm bảo cung cấp nước cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Với điều kiện nêu trên, Hà Nam có nhiều thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp sinh thái đa dạng với nhiều loại động, thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Hạn chế lớn nhất của khí hậu, thuỷ văn Hà Nam là mùa khô thiếu nước và mùa mưa thường bị bão gây ngập úng. Về tài nguyên: Ngoài tài nguyên đất, Hà Nam còn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, trữ lượng không nhỏ, chủ yếu là các loại đá vôi dùng làm nguyên liệu cho sản xuất ximăng, vôi, sản xuất bột nhẹ và sản xuất vật liệu xây dựng. Cùng tài nguyên khoáng sản, địa hình và điều kiện tự nhiên đa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dạng đã tạo cho Hà Nam có nhiều cảnh quan và quần thể tự nhiên đẹp, thuận lợi cho phát triển các ngành du lịch sinh thái, du lịch thắng cảnh, nghỉ ngơi, điều dưỡng sức khoẻ, và du lịch kết hợp với nghiên cứu khoa học.
Ngũ Động Sơn, núi Cấm ở Thi Sơn, động Khả Phong, hồ Tam Chúc, dốc Ba Chồm (huyện Kim Bảng); cảnh quan thiên nhiên ở Đọi Sơn - Điệp Sơn (huyện Duy Tiên); Kẽm Trống, núi Tiên (huyện Thanh Liêm); Hệ sinh thái nông nghiệp ở huyện Bình Lục, Lý Nhân…là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng, quý giá để phát triển ngành du lịch nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh. Kinh tế- xã hội: Hệ thống giao thông nội tỉnh, ngoại tỉnh và giao thông nông thôn Hà Nam không ngừng được đầu tư nâng cấp, mở rộng. Mạng lưới chuyển tải, phân phối điện được mở rộng hầu hết các thôn xóm. Cơ sở hạ tầng bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc phát triển nhanh đang từng bước hiện đại hóa.
Các ngành dịch vụ, tài chính, thương mại, ngân hàng cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển của các lĩnh vực này và nhu cầu sử dụng các loại hình dịch vụ của nhân dân. Mạng lưới y tế, giáo dục đào tạo và phúc lợi xã hội của Hà Nam khá phát triển. Đến năm 2002, toàn tỉnh có 86% trường tiểu học, 85% trường trung học cơ sở và 100% trường trung học phổ thông được xây dựng kiên cố và bán kiên cố. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 9,05%; giai đoạn 2006-2010 đạt 13,5%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp, thương mại- dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp. Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi, thuỷ sản từ 31,2% (2005) lên 39,5% (2010). Với số dân là 813.978 người (2002) trong đó có 473.828 người (chiếm 58,2% dân số) trong độ tuổi lao động. Mặc dù, so với các tỉnh thuộc đồng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng sông Hồng, Hà Nam có dân số không đông, lực lượng lao động không lớn song điểm nổi trội của cư dân và lao động Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, có khả năng tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống [5, tr.
Hà Nam còn là một vùng đất vốn có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa. Nơi đây là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” được nhiều người biết đến với di sản “văn hóa Liễu Đôi” nổi tiếng, vùng “thánh địa Tiền Lê Bảo Thái” đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia; vùng đất của những võ tướng, danh nhân như Cao Thị Liên, Lê Hoàn, Trần Trọng Bình, Đinh Công Tráng, Phó bảng Trương Công Giai, Hoàng giáp Lê Tung, thám hoa Nguyễn Quốc Hiệu, tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, Nam Cao, Nguyễn Hữu Tiến.Những truyền thống đó lại được phát huy mạnh mẽ khi Đảng ra đời lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân, phong kiến giành độc lập cho dân tộc và tự do hạnh phúc cho nhân dân. Đảng bộ Hà Nam tự hào là một trong những Đảng bộ được thành lập rất sớm, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Liền sau đó Đảng bộ Hà Nam đã lãnh đạo quần chúng nhân dân, nhất là nông dân đứng lên: “nổi trống Bồ Đề” ngày 20.
Trong thư gửi Quốc tế nông dân ngày 5.1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: Hà Nam là một trong những tỉnh có phong trào nông dân phát triển qua cao trào cách mạng 1930-1931. Với truyền thống vẻ vang đó, Đảng bộ và nhân Hà Nam đã nhiều lần vinh dự tự hào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Trong khí thế vui mừng phấn khởi của cuộc bầu cử quốc hội khóa I thành công, ngày 11.1946 Bác Hồ kính yêu về thăm và căn dặn Đảng bộ cùng nhân dân Hà Nam rằng: Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ phải nêu cao tinh thần đoàn kết, chống ngoại xâm, trừ nạn đói, bảo vệ nền độc lập tự do. Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã phấn đấu giành nhiều thành tựu cả về kinh tế - chính trị - xã hội-văn hóa góp phần vào 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước sau những năm tháng chiến tranh [45, tr.
Kế thừa và quán triệt đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để có những bước chuyển vững chắc hơn, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XV (7/1998), XVI (12/2000), XVII (12/2005), XVIII (10/2010) đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội cụ thể cho từng giai đoạn, trong đó ưu tiên chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển nền nông nghiệp toàn diện theo đường lối chủ trương chung của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ổn định và từng bước phát triển về kinh tế nông nghiệp đã tác động không nhỏ về mặt xã hội góp phần làm cho Hà Nam ngày càng phát triển. Đời sống và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện: Tính đến năm 2005, toàn tỉnh có 82,6% số hộ nông dân có nhà xây mái ngói, mái bằng.
Phương tiện giao thông, thông tin liên lạc được tăng cường đầu tư, 100% số xã và 93,5% số hộ ở nông thôn đã dùng điện, gần 35% số hộ có ti vi, mạng lưới điện thoại được mở rộng tới các xã và một số gia đình. Trên các vùng đất chiêm trũng là những cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm, những trang trại trù phù đạt từ 50 đến 100 triệu đồng/năm, những khu công nghiệp sôi động khí thế sản xuất. Người Hà Nam đang từng bước đổi mới tư duy để nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự cần cù, năng động, bản lĩnh và sáng tạo [27, tr.