PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn Nông thôn, nông nghiệp và nông dân có vai trò hết sức quan trọng trong việc ổn định và phát triển bền vững kinh tế - xã hội của cả nước nói chung cũng như của từng địa phương, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ nét đến sản xuất nông nghiệp và tỉnh trạng đô thị hóa, công nghiệp hóa đang dần thu hẹp không gian của sản xuất nông nghiệp. Trong khi an ninh lương thực, vấn đề an toàn thực phẩm tiếp tục là chủ đề quan tâm của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ở cấp độ địa phương cấp tỉnh, vấn đề “trồng cây gì”, “nuôi con gì”, mô hình sản xuất như thế nào… để đem lại hiệu quả kinh tế cho sản xuất nông nghiệp, thay đổi bộ mặt nông thôn cũng được bàn luận trên nhiều phương diện khác nhau.
Và hầu hết, các địa phương đều có sự lựa chọn khác nhau dựa trên các yếu tố đặc thù về đất đai, khí hậu, yếu tố thủy văn, truyền thống canh tác, nuôi trồng, kỹ thuật thâm canh và cơ chế, chính sách để hỗ trợ và phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, để đánh giá đúng thực trạng kết quả sản xuất, sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung và trong nội bộ ngành này nói riêng thì cần có sự vào cuộc, nhìn nhận và đánh giá một cách khoa học, ở nhiều khía cạnh khác nhau và từng giai đoạn khác nhau, kể cả ở các địa phương có điều kiện hoàn cảnh giống nhau. Và mặc dù, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở tầm quốc gia hay từng địa phương cấp tỉnh, thậm trí còn ở cấp huyện với những kinh nghiệm được nghiên cứu ở một số quốc gia trong những năm gần đây, nhưng các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, lãnh đạo chủ chốt vẫn không thể tìm ra hay đề xuất được các giải pháp, cơ chế, chính sách,. (hay còn gọi là một công thức hay mô hình chung) để áp dụng thống nhất cho tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước để thực hiện chuyển đổi, tái cơ cấu ngành nông nghiệp một cách hiệu quả nhất.
Để trả lời cho các câu hỏi này, cần có sự nghiên cứu liên tục, xuyên suốt với thời gian dài để tìm ra cách làm hay, sáng tạo của từng địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Yếu tố mấu chốt trong đó vẫn phụ thuộc vào con người, họ chính là người nông dân hay các nhà nông học hay đội ngũ kỹ sư nông nghiệp, đội ngũ cán bộ công chức thực thi nhiệm vụ, triển khai các cơ chế, chính sách để hỗ trợ 2 và phát triển sản xuất nông nghiệp ở từng địa phương, với sự phối hợp của các ngành có liên quan thì mới có thể thực hiện hiệu quả và bền vững. Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các cấp, các ngành và các địa phương tỉnh Bắc Ninh đã triển khai nhiều chương trình, kế hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã xác định mục tiêu phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 2016-2020: Tốc độ tăng trưởng bình quân tăng 0,8%/năm; đến 2020, tỷ trọng chiếm 2,6% trong GRDP; với nhiệm vụ “Tập trung phát triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng cao; đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp để nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp; hình thành các vùng sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng và giá trị cao; khai thác có hiệu quả các trang trại, vùng chăn nuôi tập trung, khép kín gắn với chế biến và tiêu thụ; thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển mạnh chăn nuôi, thủy sản gắn với an toàn dịch bệnh”.
Để thực hiện các nhiệm vụ, ngành Nông nghiệp đã triển khai Đề án “Rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó đã điều chỉnh các quan điểm, đó là: “Phát triển nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững; Phát triển bền vững vừa là một quá trình, vừa là mục tiêu của ngành nông nghiệp”; “Chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận”; “Tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, xã hội. Nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn”; “Phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn kết chặt chẽ với công nghiệp bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ, tiếp tục hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung”. Từ năm 2016 đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ nông dân; Nông nghiệp chuyển dần sang sản xuất hàng hóa, chương trình xây dựng nông thôn mới bước đầu đạt kết quả 3 tốt; Đời sống nhân dân khu vực nông thôn được nâng lên, tạo lập các yếu tố nền tảng, phát huy động lực phát triển trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, mặt trái quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở Bắc Ninh, đã và đang gây ra hiệu ứng không tích cực cho sản xuất nông nghiệp, được thể hiện rõ trên các mặt: (i) Thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lao động làm việc trong ngành nông nghiệp giảm mạnh đã tác động tiêu cực đến năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp của tỉnh; (ii) Tạo ra sự phân hóa xã hội giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh; (iii) Bỏ phí nhiều cơ hội phát triển nông nghiệp của tỉnh mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi.
Vì vậy, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới là hết sức cần thiết nhằm mục tiêu đưa nền nông nghiệp Bắc Ninh theo một hướng mới phù hợp với xu thế xây dựng Bắc Ninh trở thành đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, đồng thời tận dụng lợi thế của Bắc Ninh trong phát triển nông nghiệp để khu vực nông thôn và người nông dân tỉnh Bắc Ninh có cơ hội làm giàu từ sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao,. Trên cơ sở thực trạng nền nông nghiệp cũng như kết quả quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2016-2021 và vai trò của sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành nông nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội, học viên nhận thấy cần có sự nghiên cứu, đánh giá về vấn đề này, nên đã lựa chọn “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Tính đến năm 2021, ở phạm vi quốc gia cũng như các địa phương, đã có nhiều đề án, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ/ngành và các địa phương tổ chức nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở các góc độ khác nhau, như: (1) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long theo hướng phát triển bền vững - Luận văn Thạc sĩ của Bùi Tấn Đạt, 2013, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
Ở công trình này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững ở một số nước. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông 4 nghiệp cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn 2001-2010, từ đó đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp diễn ra chậm và trì trệ. Trong công trình, tác giả đã dùng các phương pháp nghiên cứu, như: khảo sát thực địa, thu thập tài liệu từ các sở, ngành có liên quan; phương pháp phân tích hệ thống, dự báo, bản đồ - biểu đồ,… Qua đó, tác giả đã rút ra một số kết luận: Quy mô và tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2001-2010 đã vượt mục tiêu (Quy hoạch) đề ra và đã đóng góp quan trọng trong ổn định tình hinh kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, như: làm tăng diện tích các loại cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao, phá bỏ thế độc canh của cây lương thực; đất đai được khai thác hợp lý hơn (hệ số sử dụng đất tăng hơn); tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo. Tác giả đã đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ với việc phân định rõ các vùng, tiểu vùng gắn với nhóm cây trồng, vật nuôi cụ thể.
Đồng thời, tác giả đã chỉ ra quá trình chuyển dịch chậm và thiếu bền vững trên một số mặt, như: (1) Về mặt tự nhiên và môi trường: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh còn chưa gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên và tái tạo nguồn lợi tự nhiên, thậm trí ở một số lĩnh vực còn xem nhẹ yếu tố môi trường; (2) Về mặt kinh tế - xã hội: Hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, chưa thu hút được đầu tư và đặc biệt có nguy cơ tụt hậu so với các tỉnh trong vùng; cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm, chưa thiết lập được các tiền đề để tiến lên sản xuất nông nghiệp hiện đại; chăn nuôi và thủy sản chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và còn mất cân đối với trồng trọt; giống cây trồng, vật nuôi chậm đổi mới về chất lượng và ứng dụng công nghệ sản xuất mới.