Chương 1 BƢỚC ĐẦU LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM 1997-2000 1. Những yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu và chủ trƣơng của Đảng bộ 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và cơ cấu kinh tế trước ngày tái lập tỉnh - Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội Tỉnh Bạc Liêu được tái lập từ ngày 1-1-1997 trên cơ sở chia tách từ tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Sau khi được tái lập, Bạc Liêu gồm 7 đơn vị hành chính (thị xã Bạc Liêu và 6 huyện: Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải, Hòa Bình) với tổng số 61 xã, phường, thị trấn.
Về tự nhiên, Bạc Liêu là một tỉnh ven biển thuộc bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên 2582 km2, chiếm 1/16 diện tích đồng bằng sông Cửu Long; có bờ biển dài 56 km, với các cửa biển như Gành Hào, Cái Cùng, Nhà Mát, là những nơi trung chuyển hàng hóa của nhiều cơ sở kinh tế trong và ngoài tỉnh. Thềm lục địa khu vực tỉnh Bạc Liêu nhiều khả năng có dầu và khí thiên nhiên, một tài nguyên chiến lược của đất nước. Bạc Liêu là tỉnh duy nhất ở đồng bằng sông Cửu Long có Quốc lộ 1A chạy song song và cách bờ biển không xa, chia Bạc Liêu thành 2 khu vực rõ rệt. Khu vực Bắc Quốc lộ 1A có địa hình tương đối thấp , cao độ trung bình từ 0,20 đến 0,30 mét.
Khu vực Nam Quốc lộ 1A cao hơn khu vực phía Bắc trung bình từ 0,40 đến 0,80 mét. Những giồng cát ở ven biển tạo nên hướng nghiêng từ biển vào nội địa, hình thành những vùng trũng, mùa mưa nước ngập sâu, mùa khô nước rút muộn hơn các nơi khác trong tỉnh. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Địa hình trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tận dụng thủy triều đưa nước mặn vào ruộng phục vụ nuôi trồng thủy sản, song cũng tạo thành những vùng trũng cục bộ, nhất là đối với các khu vực chuyển đổi sản xuất ở các huyện Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai. Những cơ sở kinh tế quan trọng và những địa điểm có khả năng phát triển kinh tế của tỉnh đều nằm trên các trục đường thủy và đường bộ chính, nối Bạc Liêu với các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long và các địa bàn khác.
Nhờ vậy các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có khả năng phát triển một cách hài hòa, hỗ trợ qua lại lẫn nhau. Đất đai của tỉnh là đất phù sa mới do biển bồi đắp, thường xuyên chịu tác động của thủy triều biển Đông và Vịnh Thái Lan nên hệ động thực vật thích nghi với sự nhiễm phèn, mặn của thổ nhưỡng. Toàn tỉnh Bạc Liêu có 1.497 km sông, rạch, trong đó có 9 sông lớn với tổng chiều dài 253 km, 24 kênh trục và kênh cấp 1 với tổng chiều dài 354 km, 143 kênh cấp 2 và kênh vượt cấp với tổng chiều dài 325 km và kênh cấp 3 với tổng chiều dài 565 km. Là một trong những tỉnh có hệ thống sông rạch nhiều nhất so với cả nước , Bạc Liêu có tiềm năng lớn để phát triển vậ n tải biển và du lịch, cùng với những vườn cây ăn trái, xen những cánh rừng phòng hộ ven biển tạo nên sự hấp dẫn cho du lịch sinh thái.
Tuy nhiên, hệ thống sông rạch cũng tạo sự chia cắt địa bàn, gây khó khăn cho giao thông đường bộ. Khí hậu tỉnh Bạc Liêu mang những đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo; đồng thời chịu ảnh hưởng rõ rệt của biển, một năm chia làm 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 dương lịch, với lượng mưa trung bình 1.867,8 mm/năm, mùa mưa chiếm trên 90% lượng mưa cả năm. Do nằm ở vĩ độ thấp (9000 vĩ Bắc) nên tỉnh Bạc Liêu ít bị ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Bạc Liêu không bị ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt hệ thống sông Cửu Long , nhưng chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều biển Đông và một phần chế độ nhật triều biển Tây.
Nhờ vậy nửa diện tích Bắc Quốc lộ 1A có thể chuyển đổi để nuôi trồng thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao. Do những điều kiện về thổ nhưỡng , thủy văn và các đặc trưng về thời tiết , khí hậu, Bạc Liêu có khả nă ng sử dụng 83,58% diện tích đất tự nhiên để trồng lúa , cây 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hàng năm , cây lâu năm ; đất trồng rừng , nuôi tôm , làm muối là 13,49%; đất sông, kênh rạch khoảng 2,9%. Tỉnh Bạc Liêu có 152.000 ha đất tự nhiên dần được ngọt hóa theo tiến độ thực hiện Chương trình ngọt hóa Quản lộ Phụng Hiệp của Trung ương với 176.000 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có 70.000 ha đất sản xuất lúa trong vùng ngọt hóa [38, tr. Nhìn chung điều kiên tự nhiên của Bạc Liêu có nhiều thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp toàn diện.
Vùng Bắc Quốc lộ 1A là khu vực ngọt hoá. Phía Đông - Bắc thích hợp với trồng lúa, màu và cây nông nghiệp. Phía Tây thích nghi cho nuôi trồng thủy sản và lúa - tôm. Vùng Nam Quốc lộ 1A phù hợp với nuôi trồng thủy sản, làm muối, trồng rừng ngập mặn và phát triển du lịch biển.
Về kinh tế, khi mới được tái lập, điểm xuất phát về kinh tế của tỉnh Bạc Liêu rất thấp. Kết cấu hạ tầng lạc hậu, toàn tỉnh chỉ có 25/48 xã, phường có đường bộ đến trung tâm xã. Thu nhập bình quân đầu người năm 1997 là 2,45 triệu đồng, bằng 2/3 mức thu nhập bình quân của tỉnh Cà Mau. Giá trị tổng sản phẩm chỉ chiếm 0,65% của cả nước, trong khi đó mật độ dân số lại cao gấp 1,4 lần so với cả nước.
Bạc Liêu có nguồn lao động dồi dào (346.600 người), nhưng trình độ kỹ thuật và tay nghề rất thấp*. Năm 1997, toàn tỉnh có 30 cơ sở sản xuất đường thủ công từ cây mía, phần lớn tập trung ở huyện Hồng Dân, 277 cơ sở xay xát chế biến gạo, trong đó có 4 nhà máy có khả năng chế biến gạo xuất khẩu, số còn lại là những cơ sở xay xát nhỏ của cá nhân hộ gia đình, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu. Trong 22 năm trước ngày tái lập lập tỉnh, sản lượng lúa hàng năm trên vùng đất Bạc Liêu tuy ở mức khá cao, dao động từ 600 đến 700 ngàn tấn/năm, diện tích canh tác hơn 116 ngàn ha, nhưng toàn là lúa tiêu dùng nội địa và chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu về lương thực cho tỉ nh. Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế lúc đó là độc canh cây lúa, năng suất không cao, giá nông sản bấp bênh, khó tiêu thụ, làm cho đại bộ phận nông dân phải cam chịu cảnh nghèo túng triền miên, tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên * Năm 1996, có 19.610 lao động trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trong đó lao động có trình độ đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp chỉ chiếm 0,5%, công nhân kỹ thuật 9-10%, trên 89% còn lại là công nhân tay nghề bậc thấp và chưa qua đào tạo…[238, tr.
Đội ngũ cán bộ quản lý vừa thiếu, vừa yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, tác động không nhỏ đến điều hành sản xuất, kinh doanh và tìm kiếm thị trường [238, tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 23% tổng số hộ (gần 40 ngàn hộ). Sở dĩ hạt lúa của Bạc Liêu mấy chục năm dài sau giải phóng không vươn xa được, đơn giản là vì không chế biến, xuất khẩu. Hoạt động thương mại - dịch vụ của Bạc Liêu khi tái lập tỉnh còn rất nhiều khó khăn.
“Chất lượng hàng xuất khẩu thấp, mẫu mã đơn điệu, công nghệ lạc hậu mang nhiều tính chất sơ chế nên hiệu quả kinh tế thấp” [238, tr. Về xã hội , Tỉnh Bạc Liêu có dân số 795.323 người (1997), với mật độ 317 người/km2, thấp hơn mức bình quân chung của đồng bằng sông Cửu Long. Dân số khu vực thành thị chiếm 24%, nông thôn 76%. Nếu chia theo nông nghiệp và phi nông nghiệp thì tỷ lệ tương ứng là 79% và 21%.
Tỷ lệ này chứng tỏ một bộ phận khá đông dân số ở thành thị vẫn sống bằng nghề nông. Thành phần dân tộc ở Bạc Liêu chủ yếu là người Kinh (chiếm 89,5%), người Hoa chiếm 2,5%, người Khơme chiếm gần 8%. Dân cư trong tỉ nh phân bố không đều, thường tập trung ở thị xã, thị trấn, ven kênh rạch [238, tr. Sinh sống trên mảnh đất lịch sử giàu truyền thống yêu nước và cách mạng , người dân Bạc Liêu mang nét đặc thù là cần cù , thông minh , sáng tạo , hào hiệp , phóng khoáng.
Cùng với phong trào cách mạng chung của cả nước , Đảng bộ và nhân dân Bạc Liêu đã có những đóng gó p quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH. Những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khá thuận lợi chí nh là nguồn nội lực để Bạc Liêu tiến hành CDCCKT , đẩy mạnh CNH, HĐH. Tuy nhiên trong quá trình đó, Bạc Liêu phải vượt qua không ít khó khăn do kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hệ thống giao thông đường bộ chưa phát triển ở nông thôn; nguồn lao động chủ yếu vẫn là lao động phổ thông. Nền kinh tế còn mang nặng tính thuần nông, sản xuất hàng hóa chưa phát triển.
Điều đó cũng quy định CDCCKT ở Bạc Liêu phải bắt đầu từ nông nghiệp. - Cơ cấu kinh tế trước ngày tái lập tỉnh Với tinh thần đổi mới toàn diện , bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế , Đại hội VI (12-1986) của Đảng chỉ rõ : “Muốn đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại sản xuất có quy mô và trình độ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định” [41, tr. Trong bố trí CCKT, Đại hội chủ trương phải đưa nông nghiệp lên mặt trận hàng đầu, tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.