CHƯƠNG 1: TONG QUAN VÀ LÝ THUYET NGHIÊN CỨU 1. Vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn lưu động Ross và các cộng sự (2009) đã nêu ra quan điểm về vốn lưu động như sau: “Thuật ngữ vốn lưu động đề cập đến các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, như hàng tồn kho, và các khoản nợ ngắn hạn, như nợ phải trả nhà cung cấp”. Khái niệm này tuy chưa nêu lên công thức xác định, nhưng đã đưa ra các bộ phận cau thành nên VLD.
Từ đó có thể nhận thấy nghiệp vụ quản trị VLĐ sẽ liên quan đến các khoản mục TSNH như tiền, khoản phải thu, HTK và khoản mục nợ ngắn hạn như khoản phải trả. Theo một hướng tiếp cận khác, James Sagner (2010) — một chuyên gia trong lĩnh vực QTTC và phân tích kinh tế người Mỹ đã cho răng: “ Vốn lưu động là sự chênh lệch giữa hai khoản mục của bảng cân đối kế toán là tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn”. Trong khi đó, hai nhà nghiên cứu kinh tế người An Độ, Khan và Jain (2007) lại nêu lên hai khái niệm liên quan đến vốn lưu động. Một là Gross working capital — VLD gộp là tổng lượng TSNH của doanh nghiệp.
Hai là Net working capital - VLD ròng/VLĐ thuần được định nghĩa theo hai cách: “(i) là sự chênh lệch giữa TSNH va nợ ngắn hạn và (ii) là lượng TSNH được tai trợ bởi nguồn von dai hạn”. Trong đó, VLĐR, với vai trò là một thước do tính thanh khoản, tuy không thật sự hữu ích trong việc so sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau nhưng thường được áp dụng nhiều trong hoạt động quản lý nội bộ. Họ cũng đưa ra ý kiến rằng các chuyên gia phân tích về tài chính thường tập trung vào khái niệm VLD gop, trong khi các kế toán viên quan tâm đến VLĐR hơn. Một số nghiên cứu ở Việt Nam về vốn lưu động cũng đưa ra nhiều quan điểm dưới những cách tiếp cận khác nhau.
Xét trên khía cạnh thực tế, Nguyễn Đình Kiệm (2008) cho rằng mỗi DN để phục vụ cho quá trình SX-KD được diễn ra trôi chảy, mạch lac thì cần phải có một khối lượng TSLD nhất định. Dé tạo nên lượng tài sản này, “doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư, số vốn đó được gọi là vốn lưu động”. Còn theo Nguyễn Thu Thuỷ (2011), VLĐ và VLĐ gộp được hiểu như nhau, đều là tập hợp tất cả các TSNH được doanh nghiệp dùng trong quá trình SX-KD, cụ thể hơn là “những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp”. Tuy nhiên, học giả cho rằng có mối liên hệ giữa TSNH và nguồn vốn tài trợ ngắn hạn tác động đến chu trình luận chuyển hàng hoá nhằm tìm kiếm tao giá trị thang dư của DN.
Mối liên hệ này được thê hiện qua lượng vốn lưu động ròng (net working capital). 4 Từ sự kế thừa những quan điểm và nghiên cứu đi trước của nhiều học giả, có thể thống nhất và đưa ra hai quan điểm chính về VLĐ như sau: (1) Vốn lưu động — working capital: là thuật ngữ kinh tế đề cập chung tới các TSNH của DN (thường bao gồm tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho) và các khoản nợ ngắn hạn (như phải trả người bán, người mua trả tiền trước,.) (2) Vốn lưu động gộp — gross working capital: là chỉ tiêu tài chính cho biết tổng lượng TSNH được DN sử dụng trong quá trình SX-KD. (3) Vốn lưu động thuan/ vốn lưu động ròng — net working capital: là chỉ tiêu được tính toán bang giá trị phần chênh giữa TSNH va nợ ngăn han Vốn lưu động ròng = TSNH — Nợ ngắn han Trong đó, vốn lưu động ròng (VLĐR) là một chỉ tiêu tài chính đặc biệt quan trọng thể hiện cách thức mà doanh nghiệp đang tai trợ cho tài sản của mình, qua đó nói lên sức khoẻ tài chính của DN. - VLĐR = 0 => Trạng thái cân bằng lý tưởng, tất cả nguồn vốn ngắn hạn được dùng dé tai trợ cho TSNH và tất cả nguồn vốn dài hạn sẽ đầu tư cho TSDH.
- VLDR > 0 => Nguồn vốn dài han tài trợ cho tất cả TSDH và dư một phần cho TSNH. Lúc này, DN có khả năng thanh khoản tốt, tình hình tài chính an toàn, tuy nhiên cũng có những hạn chế như chi phí của vốn dài hạn thường cao, DN cần dùng nhiều tài sản thế chấp và kém linh hoạt. - VLĐR < 0 => Lượng vốn dai hạn không đủ dé đầu tư cho TSDH, DN phải dùng đến một phần vốn ngắn hạn. Điều này khi xảy ra thường rất nguy hiểm, có thể dẫn đến tình trạng DN không còn năng lực thanh toán, tuy nhiên lại có chỉ phí vốn thấp, cần ít tài sản thế chấp và linh hoạt hơn.
Đặc điểm của vốn lưu động Vốn lưu động có vòng tuần hoàn băng với một chu kỳ sản xuất và chuyên hoá toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị của thành pham. Sau khi quá trình SX kết thúc thi VLD sẽ được thu hồi khi hàng hoá được tiêu thu. Một chu ky sản xuất càng mat nhiều thời gian thì lượng VLĐ yêu cầu càng lớn. Xuyên suốt quá trình sản xuất, VLĐ sẽ biến đổi thành nhiều giá trị hình thài khác nhau, “tiền — hàng tồn kho — khoản phải thu — tiền” (Debarshi, 2011).
Các bước biến đổi của vòng tuần hoàn này không tách biệt riêng rẽ mà vận động đan xen lẫn nhau. Do đó, việc thường xuyên giám sát tình hình luân chuyển vốn, đảm bảo cho nguồn vốn được luôn luân chuyên thông suốt, nhịp nhàng và giải quyết kịp thời các ách tắc là hoạt động vô cùng cần thiết với mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sản xuất và thương mại thường cần lượng VLĐ lớn để duy trì đủ tiên mặt, HTK và các khoản nợ sô sách phục vụ cho nhu câu của hoạt động SX va 5 bán hàng. Trong khi đó, các DN cung cấp dịch vụ (như tiện ích công cộng) và khách sạn, nhà hang,.
thường yêu cầu một lượng VLD nhỏ hon (Khan & Jain, 2007). Phân loại vốn lưu động Việc phân loại VLD được thực hiện nhằm giúp cho hoạt động quản trị vốn lưu động được thực hiện tối ưu hơn. Theo Debarshi (2011) và Bùi Thu Hiền (2017), VLD có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí sau: e Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn (Debarshi, 2011) VLD tạm thời (Temporary working capital): là lượng VLD nhằm “đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong quá trình SX-KD, bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tô chức tín dụng và các khoản phải trả ngăn hạn khác”. Nhu cầu về VLĐ tạm thời biến động phụ thuộc vào những thay đổi trong suốt quá trình SX-KD của DN.
VLD thường xuyên (Permanent working capital): là lượng vốn ngắn han có “tính chất ôn định nhằm hình thành nên các tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp”. Nó được biểu hiện bằng lượng tiền, HTK và khoản phải thu tối thiêu để vận hành DN tại bất cứ thời điểm nảo. e Phan loại theo hình thái biểu hiện (Bùi Thu Hiền, 2017) Von vật tu, hàng hoá: là VLD có hình thái biểu hiện dưới dạng các hiện vật cụ thể như “nguyên nhiên vật liệu, sản phâm dé dang, thành phẩm, bán thành pham,.” Vốn bằng tiên: là VLĐ dưới hình thái tiền tệ như “các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, đầu tư chứng khoán ngắn hạn.” ¢ Phân loại theo vai trò từng loại vốn (Bùi Thu Hiền, 2017) VLĐ trong quá trình dự trữ sản xuất: là lượng vốn tồn tại đưới hình thái các loại tải sản dự trữ phục vụ cho hoạt động SX, như “giá trị các khoản nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ,.” VLD trong qua trình sản xuất: là các khoản mục phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất, bao gồm giá trị các khoản như “sản phẩm đở dang, bán thành phâm, các khoản chi phí chờ kết chuyén,.” VLD trong quả trình lưu thông: là VLD dưới hình thái các khoản mục phát sinh khi phân phối, mua bán hang hoá, có thể kể đến “vốn bằng tiền, thành phẩm, vốn đầu tư ngắn hạn, các khoản ký quỹ, thé chấp ngắn hạn. Vai trò của vốn lưu động Sự cần thiết của vốn lưu động bắt nguồn từ chu kỳ kinh doanh/ chu kỳ tiền tệ của DN.
Do là độ dài quãng thời gian yêu cầu để hoàn thành tất cả các sự kiện sau: sự chuyên đổi từ tiền sang HTK, từ HTK đến khoản phải thu và từ các khoản phải thu chuyên thành tiền. VLĐ dưới hình thái là các TSNH sẽ giúp giải quyết những vấn đề 6 nay sinh trong giai đoạn ngay sau khi hang hoá được tiêu thụ và DN tạm thời chưa thu được tiền (Khan & Jain, 2007). Nhà QTTC và kế toán người An Độ - Debarshi (201 1) đã vi VLD chính là “life- blood” trong mọi sự vận động của DN. Ông chỉ ra bảy vai trò sau cho thấy tầm quan trọng thiết yêu của VLD đối với mỗi công ty: “(1) Vận hành trơn tru các hoạt động của DN (2) Đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra thông suốt, trôi chảy (3) Đảm bảo cung cấp nguyên vật liệu kịp thời với giá cả thấp nhất (4) Đảm bảo nghĩa vụ thanh toán thường xuyên cho các nhà cung cấp nguyên vật liệu cũng như thanh toán tiền lương và chi phí chung (5) Sử dụng hiệu quả tài sản cô định (6) Dễ dang đáp ứng các khoản thấu chi và các khoản vay ngắn hạn (7) Đảm bảo thanh toán thường xuyên lãi vay và cô tức cho cổ đông” Tổng kết lại, VLĐ giữ vai trò vô cùng cần thiết trong quá trình hoạt động SX- KD của doanh nghiệp, là tiền đề tiên quyết cho sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp.
Do đó, việc dùng lượng VLD như thế nào dé đạt hiệu quả tối ưu sẽ tác động đáng kê đến mục tiêu chung của toàn DN. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Hiệu quả (efffectiveness) là một danh từ được Cambridge Dictionary định nghĩa như sau: “the quality of being successful in achieving what is wanted”, tạm dịch là chất lượng của sự thành công trong việc dat được những gi mong muốn. Nhà kinh tế học Paul A.
Samuelson (1947) thì đưa ra khái niệm về thuật ngữ hiệu quả của một nên kinh tế như sau: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thoả mãn nhu cầu mong muốn của con người”. Đối với moi DN, nhà quản lý cần phân biệt rõ hai thuật ngữ rat dé nhằm lẫn là “hiệu quả” và “kết quả kinh doanh”.