CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN KINH DOANH DỊCH VỤ THANH TOÁN QUOC TE TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại Theo Tạ Văn Lợi (2019): “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tô chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với một tô chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước có liên quan”. Thanh toán quôc tê của các ngân hàng thương mại là việc thực hiện các nghĩa vụ tiên tệ, nảy sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tê và phi kinh tê giữa các tô chức hay cá nhân nước này với tô chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quôc g1a với tô chức quôc tê, thông qua quan hệ giữa các ngân hang có liên hệ.
Thanh toán quốc tế bao gồm hai loại: bao gồm thanh toán phi mậu dịch và thanh toán mậu dịch. - Thanh toán phi mau dịch là quan hệ trả tiền xảy ra không liên quan đến mua bán hàng hóa hay cung cấp lao vụ và có tính phi thương mại. Chúng bao gồm chi phí phục vụ van dé di chuyền của các cơ quan ngoại giao, các đoàn khách nhà nước, các cá nhân và tô chức. - Thanh toán mau dịch khác với thanh toán phi mau dịch ở chỗ hình thức này liên quan đến việc mua bán trao đồi hàng hóa và các dịch vụ thương mại.
Như thường lệ, trong thanh toán mậu dịch bắt buộc có chứng từ đi kèm. Những chủ thể liên quan bị ràng buộc nhau theo các hợp đồng kinh tế hoặc các cam két khác. Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, sự trao đổi hàng hóa xuyên biên giới không bị giới hạn bởi chế độ chính trị, các vừng lãnh thổ liên tục mở rộng các môi quan hệ nhất là quan hệ thương mại đặt ra yêu cầu việc thanh toán quốc tế phải được tối ưu và liên tục phát triển để có thể phục vụ những nhu cầu ngày một ưu việt hơn. Đặc diém của các dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại Hoạt động TTQT năm dưới sự thay đôi của quy định và các tập quán quốc tế.
Hoạt động này liên quan đến các bên tham gia ở hai hay nhiều quốc gia, vì vậy, các bên khi bước vào hoạt động thanh toán quốc tế vừa phải tuân theo quy định của luật quốc gia vừa phải chịu sự điều chỉnh của các quy định quốc tế. Phòng thương mại quốc tế ban hành UCP, URC, INCOTERMG. tạo ra môi trường pháp lý công bang cho tat cả các bên khi tham gia vào hoạt động thương mai và thanh toán quốc tế, giảm thiểu những mâu thuẫn không hay xảy ra. Hệ thống ngân hàng vận hành hầu hết các hoạt động TTQT.
Trừ một số lượng hàng hóa cực nhỏ XNK được trao đổi qua đường tiểu ngạch thì gần như kim ngạch NXK của một đất nước được thé hiện qua dữ liệu TTQT của hệ thống NHTM. Trên thực tế, người mua và người bán trên thị trường ngoại thương không được giao dịch trực tiếp với nhau, mà theo quy định phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Điều này giúp bảo đảm cho các khoản tiền mua bán được chuyên đi một cách hiệu quả, tiết kiệm thời gian và an toàn. Trong TTQT, người ta sử dụng các phương tiện thanh toán và hầu như không được sử dụng trực tiếp tiền mặt.
Hối phiếu, kỳ phiếu và séc thanh toán là các phương tiện thường được sử dụng trong TTQT. Trong TTQT, ít nhất một trong hai bên có liên quan đến đồng tiền của quốc gia khác. Do đó, hoạt động TTQT sẽ trực tiếp chịu những tác động của tỷ giá hối đoái và vấn đề quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia. Tiếng Anh là ngôn ngữ được dùng chủ yếu trong TTQT.
Luật quốc tế là công cụ dé giải quyết những tranh chấp. Vai trò của dịch vụ thanh toán quốc tế 1. Đối với nén kinh tế a) Hỗ trợ các hoạt động thu hút nguồn vốn và ngoại tệ diễn ra thuận lợi Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển như Việt Nam là rat đáng kê. Sự tài trợ từ bên ngoài góp phần không nhỏ trong tạo điều kiện tốt cho các hoạt động kinh tế diễn ra sôi nổi và phát triển.
Do đó, các nước đã đề ra một số biện pháp nhằm hấp dẫn nguồn vốn nước ngoài như: chú trọng day mạnh nền kinh tế theo mục đích xuất khẩu, gia tăng các chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài, vay nợ nước ngoài,. Những điều này tat cả đều gây nảy sinh các quan hệ tiền tệ với các chủ thé ở ngoài nước. Dé các biện pháp này được diễn ra thuận lợi đòi hỏi hoạt động TTQT được vận hành an toàn, tiết kiệm thời gian và chính xác. b) Thúc day hoạt động XNK trong nên kinh tế diễn ra thông suốt Dịch vụ TTỌT là cầu nối kinh tế thế giới và trong nước, thúc đây hoạt động XNK hàng hóa, dịch vụ,.
TTOQT phát triển thì điều này giúp cho dòng chảy hàng hóa và tiền tệ diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn. Từ đó thì dòng vốn được xoay vòng nhanh hơn, được sử dụng linh hoạt hơn và hạ thấp rủi ro trong quá trình thanh toán của các doanh nghiệp. Sự tăng trưởng của doanh nghiệp đóng góp rất nhiều vào sự mở rộng của nền kinh tế. c) Thúc day và mở rộng dịch vụ va hợp tác quốc tế trong kinh tế đối ngoại Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế sâu rộng như hiện nay, hoạt động về thương mại quốc tế trở nên vô cùng quan trọng đối với sự đi lên của dân tộc.
Không chỉ vận hành hoạt động kinh doanh trong nước, các chủ thể của nền kinh tế còn mở rộng ra nước ngoài với mong muốn lợi nhuận nhiều hơn. Quá trình trao đổi mua bán, hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức, cá nhân đến từ các vừng lãnh thô trên thế giới trở nên nhiêu hơn. Một điều nữa là nếu không có TTQT thì hoạt động về thương mại quốc tế khó mà vận hành được. Boi vì, TTQT là khâu không thé thiếu trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các cá nhân, tổ chức của nhiều lãnh thổ khác nhau trên thế giới.
Như đã nêu ở trên, hoạt động này diễn ra nhanh chóng, an toàn và chính xác giúp cho hoạt động lưu thông hàng hóa — tiền tệ trở nên thống suốt và hiệu quả hơn. Tóm lại, sự phát triển của hoạt động kinh tế đối ngoại, phụ thuộc một phần vào hoạt động TTQT. Thanh toán quốc tế phát triển thì kinh tế đối ngoại cũng phát triển. Sự phát triển của TTQT sẽ đây mạnh phát triển trong nước, hoạt đọng XNK,.
d) Gáp phần giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện hop đông ngoại thương Trong thương mại quốc tế, khoảng cách địa lý là một trong những vấn đề cản trở giữa các đối tác với nhau. Do đó thì việc nắm bắt được thông tin về khả năng tài chính, năng lực thanh toán của các bạn hang,. trở nên khó khăn. Do đó TTQT sẽ giúp doanh nghiệp XNK giảm thiểu được những điều không may trong việc thực hiện hợp đồng mua bán.
Đối với ngân hàng thương mại TTOQT là một trong những hoạt động thu được doanh số tốt của các ngân hàng thương mai. Dem lại những khoản thu đáng kề, thúc đây nhiều hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như là tài trợ XNK, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh,. Hiện nay, TTQT là dịch vụ không thé thiếu đối với bat kỳ NHTM nào. a) Giúp ngân hàng tăng doanh thu từ phí dịch vụ Thu nhập từ phí dịch vụ của các NHTM hiện nay ngày càng tăng.
Những dịch vụ điển hình như là phí dich vụ TTQT, phí dịch vụ chuyên tiền, phí lập và chỉnh sửa L/C,. nguồn thu từ những dịch vụ này góp phan đáng ké vào doanh thu của ngân hàng. Và nó đang theo đà đi lên về lượng lẫn tỷ trọng trong cơ cầu nguồn thu của ngân hàng. Các phương thức thanh toán sẽ có các mức dịch vụ có thé khác nhau.
Nó cũng phụ thuộc vào các đối thủ cạnh tranh và lòng tin của khách hàng dành cho ngân hàng đó. Từ đó sẽ tạo nên doanh thu của các NHTM. b) Mắt xích không thể thiểu trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng có thể khai thác thêm các nghiệp vụ bên cạnh như tài trợ thương mại, trao đôi ngoại tệ, tín dụng, bảo lãnh,. thông qua hoạt động TTQT.
Đồng thời ngân hàng sẽ hấp dẫn được các đối tượng có mong muốn giao thương trên quốc tế. Dựa trên căn cứ này thì ngân hang có thé mở rộng quy mô hoạt động, mở rộng nguôn thu dé lấp đầy chi phí va sản sinh lợi nhuận. Sử dụng TTQT giúp nâng cao tính thanh khoản của ngân hàng qua việc tăng số tiền ký quỹ. Tuy nhiên, mức ký quỹ phải được xác định dựa trên độ uy tín và mức độ đảm bảo của từng khách hàng khác nhau.
Nhờ đó, trong thời gian tiền chưa được thanh toán, ngân hàng có thê linh hoạt dùng khối lượng tiền này dé hỗ trợ thanh toán trong những trường hop khan cấp, hoặc đầu tu hay kinh doanh ngắn hạn dé tối đa hóa lợi nhuận. c) Giúp tăng cường quan hệ đối ngoại của Ngân hàng thương mại Hoạt động TTQT sẽ giúp ngân hang mở rộng được quy mô, không chi ở trong nước mà còn sang những nước khác. Xây dựng mối quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài. Khang định vị thế, thương hiệu của ngân hàng trên thị trường quốc tế.
Khi mà dịch vụ của ngân hàng càng nâng cao đồng nghĩa với uy tín của ngân hàng đó càng được củng cô. Độ uy tín của ngân hàng càng cao thì ngân hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc kiếm lợi nhuận từ nguồn đóng góp trên thị trường quốc tế, thu hút nhiều khách hàng nước ngoài. Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Những doanh nghiệp XNK tham gia thương mại quốc tế sẽ có nhiều thuận lợi hơn khi có thanh toán quốc tế. Đề cập đến lợi ích của nhà xuất khẩu và nhà nhập khâu, mức độ quan trọng của những quy định trong hợp đồng ngoại thương là rất lớn.