Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỦA NHO SĨ VIỆT NAM TRONG 30 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX 1. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội đầu thế kỷ XX 1. Thế giới đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc tiêu biểu là các nước Anh, Pháp, Đức, Mỹ. Từ giữa thế kỷ XIX, các nước phương Tây đã tăng cường xâm lược thuộc địa để đáp ứng những yêu cầu phát triển của chủ nghĩa đế quốc.
Đến đầu thế kỷ XX “miếng bánh thế giới đã bị phân chia xong”. Sự xâm lược và thống trị của các nước tư bản đối với các nước thuộc địa đã tạo ra mâu thuẫn dân tộc gay gắt giữa các nước xâm lược và nước bị xâm lược. Sự phát triển của kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, tư tưởng của các nước phương Tây tuy đóng góp cho văn minh nhân loại, nhưng lại không thể biện hộ cho bản chất bóc lột và xâm lược của chủ nghĩa tư bản đế quốc. Ở phương Đông, các nước tư bản phương Tây bắt đầu trực tiếp đe dọa, thực hiện xâm lược nhiều nơi.
Các nước bị ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao mô hình nhà nước quân chủ tập quyền chuyên chế với các hình thức tổ chức khác nhau, trước tình hình đó bắt đầu rơi vào thế bế tắc về phương hướng phát triển, rơi vào khủng hoảng. Mô hình kinh tế của các nước phương Đông dựa trên nền nông nghiệp lúa nước theo phương thức tổ chức sản xuất dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa đơn vị kinh tế hộ gia đình và đơn vị kinh tế cộng đồng công xã nông thôn. Phương thức tổ chức của nền kinh tế này không khuyến khích sự tích lũy vốn đầu tư. Thủ công nghiệp và thương nghiệp ra đời sớm nhưng dù phát triển đến đâu cũng không tự tạo ra sự thay đổi mô hình phát triển, hơn nữa nó còn bị cản trở bởi các chính sách của nhà nước phong kiến “trọng nông ức thương”, “nông vi bản, thương vi mạt”, “bế quan tỏa cảng”.
Cơ cấu xã hội điển hình của phương Đông gồm các giai cấp, tầng lớp: vua chúa, quý tộc, quan lại; nông dân, nông nô; trí thức chủ yếu là nho sĩ, cao tăng, thiền 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sư; thợ thủ công; thương nhân. Sự xâm lược của đế quốc phương Tây làm phá vỡ xã hội cổ truyền phương Đông nhưng đồng thời nó cũng dần tạo ra trong xã hội đó mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức mầm mống của một cơ cấu xã hội mới, kiến trúc thượng tầng mới. Khi thực dân xâm lược, các nước phương Đông có nhiều thay đổi, có những thay đổi mang tính phổ biến, nhưng cũng có những thay đổi mang tính đặc thù của từng quốc gia, dân tộc. Chúng tôi khảo cứu một số quốc gia tiêu biểu: Cho đến giữa thế kỷ XIX (thời Edo) Nhật Bản cũng vẫn là nước phong kiến, thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”.
Từ giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản bị các cường quốc phương Tây tiến công đòi mở cửa, buộc phải đứng trước hai sự lựa chọn: thứ nhất, nếu tiếp tục thực hiện chính sách đóng cửa thì Nhật Bản phải tăng cường hơn nữa khả năng phòng thủ đất nước. Thứ hai, nếu Nhật Bản chấp nhận yêu cầu mở cửa để giao thương, thì Nhật Bản phải sửa đổi và như vậy Nhật Bản sẽ tránh được nguy cơ của một cuộc chiến tranh, đồng thời có nhiều khả năng tiếp tục duy trì nền độc lập tương đối của mình. Quyết định mở cửa với phương Tây là một cố gắng cuối cùng của chính quyền nhằm tiếp tục giữ thế chủ động về ngoại giao. Từ thời Thiên Hoàng Minh Trị (Meiji 1852-1912), Nhật Bản bắt đầu công cuộc duy tân một cách đồng bộ và thực chất là tuân theo những yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đã nhanh chóng phát triển thành quốc gia có nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, trở thành quốc gia cường thịnh trong khu vực về mọi mặt, chuẩn bị tham gia vào cuộc đua mới của thế giới. Ở Nhật Bản đã diễn ra quá trình thiết lập chế độ phát xít với việc sử dụng rộng rãi bộ máy quân sự và cảnh sát của chế độ quân chủ lập hiến, từ đó bắt đầu tiến hành xâm lược thuộc địa với tham vọng chiếm Trung Quốc, Triều Tiên, châu Á và toàn thế giới. Trung Quèc là quốc gia phong kiến điển hình ở phương Đông. Người Trung Hoa qua nhiều thế hệ đều cho mình là trung tâm của vũ trụ, họ tin vào sức mạnh đa năng của các pho sách thánh hiền, họ muốn tìm cách quản lý xã hội thông qua lời dạy của các bậc thánh nhân, minh quân, quân tử, chủ yếu quản lý xã hội bằng kinh nghiệm.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, về chế độ chính trị, Trung Quốc từ 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một nước phong kiến quân chủ tập quyền chuyên chế trở thành chế độ nửa phong kiến nửa thuộc địa, phụ thuộc vào tư bản phương Tây. Mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn xã hội trở nên găy gắt. Tuy nhiên, sự có mặt của đế quốc phương Tây đã làm xuất hiện mầm mống của kinh tế tư bản, đưa nền kinh tế Trung Quốc thoát dần tình trạng “bế quan tỏa cảng”, mở ra nền kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển theo phương thức tư bản chủ nghĩa. Ngoại xâm thời cận hiện đại cũng đã kích thích sự thay đổi thế giới quan của người Trung Quốc nói chung, của trí thức nói riêng, là nguồn của các trào lưu tư tưởng cải cách, duy tân, cách mạng đầu thế kỷ XX nhất là trong giới trí thức xuất thân từ sĩ phu phong kiến hay giai cấp tư sản mới hình thành.
Giai cấp tư sản Trung Quốc tuy mới hình thành với vị trí, vai trò còn khiêm tốn trong xã hội nhưng họ lại đại biểu diện phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giai cấp này vừa chịu áp bức của đế quốc, phong kiến lại vừa phải liên hệ với các giai cấp ấy cũng như với tầng lớp trung lưu của xã hội và quần chúng lao động, tức với những người có tinh thần cách mạng. Do vậy, trong xã hội Trung Quốc xuất hiện các khuynh hướng cải cách, biến pháp, duy tân, cách mạng tùy theo từng giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Trước tiên là khuynh híng biÕn ph¸p dưới ¶nh hëng cña t tëng d©n chñ t s¶n ph¬ng T©y.
C¸c l·nh tô tiêu biểu của khuynh hướng này là: Khang H÷u Vi, L¬ng Kh¶i Siªu, D¬ng Th©m Tó, §µm Tù §ång. Họ học tập Nhật Bản, coi công cuộc duy tân của Nhật Bản như là người thầy gần nhất. Họ đã tiến hành công cuộc duy tân vào năm 1898 theo mô hình Nhật Bản, muốn tập trung quyền lực và dựa vào một ông vua là Quang Tự như Minh Trị ở Nhật Bản. Phong trào thất bại, biến pháp không được thi hành do ở địa phương phe thủ cựu còn nắm nhiều quyền binh, hơn nữa họ chỉ chú trọng tranh thủ sự ủng hộ của một bộ phận trong các tầng lớp trên của xã hội mà thiếu sự tham gia của quần chúng nhân dân, nhất là nông dân.
Tuy nhiên, phong trào cũng đã thức tỉnh được tinh thần yêu nước của nhân dân, đề cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm, ý thức dân chủ chống chuyên chế, mặc dù mới chỉ hạn chế trong phạm vi quân chủ lập hiến. Dựa vào phong trào đấu tranh bền bỉ, liên tục của quần chúng nhân dân, giai cấp tư sản Trung Quốc bắt đầu tập hợp lực lượng 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và thành lập các hội, các đảng. Đại diện ưu tú nhất cho phong trào cách mạng tư sản Trung Quốc đầu thế kỷ XX là Đồng minh hội do Tôn Trung Sơn thành lập năm 1905, đề ra học thuyết Tam dân, nhằm đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, thành lập Dân quốc, thực hiện bình đẳng. Cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) thành công, chính phủ lâm thời được thành lập ở Nam Kinh, tuyên bố thành lập Trung Hoa dân quốc, Tôn Trung Sơn được bầu làm tổng thống lâm thời.
Cách mạng Tân Hợi là một cuộc cách mạng tư sản có ý nghĩa lịch sử. Sau hơn 2000 năm, chế độ quân chủ bị lật đổ, chế độ cộng hòa ra đời. Thành công của cách mạng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Trung Quốc. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công và ý nghĩa lịch sử, cách mạng Tân Hợi là cuộc cách mạng tư sản không triệt để, không nêu vấn đề đánh đuổi đế quốc, và trên thực tế mới chỉ lật đổ được chế độ quân chủ chuyên chế nhà Thanh, chưa đụng chạm đến giai cấp địa chủ phong kiến, không giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nông dân.
Đó là “cuộc cách mạng không đến nơi” như Hồ Chí Minh đã nhận định sau này. Các quốc gia Đông nam Á có vị trí địa lý quan trọng, giàu tài nguyên và nhân lực dồi dào nên sớm trở thành đối tượng xâm lược của các nước tư bản phương Tây. Thực dân Anh xâm chiếm Malaixia, Mianma; Pháp chiếm Việt Nam, Lào, Campuchia; Tây Ban Nha sau đó là Mỹ chiếm Philippin; Hà Lan thôn tính Inđônêxia; chỉ có Thái Lan thoát khỏi tình trạng là nước thuộc địa. Tùy tình hình cụ thể mà mỗi nước thực dân có chính sách cai trị, bóc lột khác nhau, nhìn chung là vơ vét tài nguyên để đưa về chính quốc, không mở mang công nghiệp thuộc địa, tăng các loại thuế, mở đồn điền, bắt lính, đàn áp phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc.
Sau thất bại của những cuộc khởi nghĩa dưới ngọn cờ phong kiến, tầng lớp trí thức cấp tiến ở các nước Đông Nam Á đã hướng cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc theo con đường dân chủ tư sản nhưng cũng chưa thành công triệt để. Cách mạng Tháng Mười Nga – cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ V.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 7 tháng 11 năm 1917. Kết quả trực tiếp của cách mạng là sự thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Liên bang cộng hòa xã hội chủ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa Xô viết.