Chương 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ỨNG HÒA TRƯỚC NĂM 1993 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ứng Hòa 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1: Bản đồ huyện Ứng Hòa Địa giới của huyện: Huyện Ứng Hòa nguyên là phủ Ứng Thiên đời nhà Lê thuộc trấn Sơn Nam. Năm Gia Long thứ 13 (năm 1814) phủ Ứng Thiên đổi tên là phủ Ứng Hòa. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), khi tỉnh Hà Nội được thành lập, Ứng Hòa là một trong bốn phủ của tỉnh Hà Nội.
Phủ Ứng Hòa gồm các huyện Sơn Minh sau đổi thành Sơn Lãng, Chương Đức (sau đổi thành Chương Mỹ), Thanh Oai và Hoài An. Năm 1888, khi tỉnh Hà Đông được thành lập, phủ Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Đông. Năm 1891, thành lập phủ Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Đông, bao gồm huyện Yên Đức, Chương Mỹ và Sơn Lãng. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, huyện Sơn Lãng đổi tên là huyện Ứng Hòa, huyện Yên Đức đổi tên là huyện Mỹ Đức.
Ngày 21/4/1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây gồm thị trấn Vân Đình và 29 xã là Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tân Phương, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội. Ngày 27/12/1975, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa V thông qua Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.
Ngày 12/8/1991, kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa VIII thông qua Nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây. Ngày 23/9/2003, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn Vân Đình thuộc huyện Ứng Hòa. Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Tân Phương và một phần diện tích và dân số các xã Liên Bạt, Phương Tú, Vạn Thái vào thị trấn Vân Đình.
Sau khi điều chỉnh, huyện Ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành chính gồm thị trấn Vân Đình và 28 xã. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ ngày 1/8/2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo Nghị quyết của kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XII ngày 29/5/2008. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc thành phố Hà Nội. Sau những lần sát nhập trên, huyện có những thay đổi về tên gọi qua các thời kỳ nhưng địa giới huyện về cơ bản bản không có những thay đổi về đất đai.
Vị trí địa lý: Ứng Hòa là một huyện đồng bằng nằm ở phía Nam của thành phố Hà Nội. Phía Bắc giáp huyện Thanh Oai và huyện Chương Mỹ. Phía Nam giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam. Phía Tây giáp sông Đáy, ngăn cách với huyện Mỹ Đức.
Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên. Diện tích tự nhiên là 183,72 km2 (năm 2010), chiếm 5,5% tổng diện tích toàn thành phố Hà Nội. Huyện Ứng Hòa có 29 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thị trấn và 28 xã, với 138 thôn, tổ dân phố. Huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, đất đai mầu mỡ thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện và năng xuất cao.
Hệ thống kết cấu hạ tầng đang từng bước được xây dựng và cải thiện để có thể tạo bước đột phá làm tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Các tuyến trục giao thông quan trọng ( QL21B, 428 và các tuyến đường trục phát triển lớn của thủ đô Hà Nội, gồm trục phát triển Bắc – Nam, Trục phát triển phía Nam và tuyến đường Đỗ Xá – Quan Sơn) kết nối huyện Ứng Hòa với trung tâm Hà Nội, các trung tâm kinh tế của Thủ đô và các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Địa hình: Địa hình đồng bằng, tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 1,5m – 4m, thấp nhất là 0,6m, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Dựa trên đặc điểm địa hình, lãnh thổ huyện có thể chia làm 2 vùng như sau: - Vùng 1 (vùng ven sông Đáy) gồm 14 xã là những xã năm dọc sông Đáy, phía trong đồng chủ yếu trồng lúa, phía ngoài đồng chủ yếu trồng cây công nghiệp ngắn ngày.
- Vùng 2 (vùng cao và trũng) gồm 14 xã và 1 thị trấn, chủ yếu trồng cây lúa và cây vụ Đông. Nhìn chung, địa hình của huyện rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp và thuận lợi cho việc bố trí các công trình công nghiệp. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khí hậu và thủy văn: Nằm trong vùng đồng bằng, huyện có đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa đồng thời là mùa hạ nóng ẩm; mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Một số đặc điểm về khí hậu của huyện: - Nhiệt độ trung bình hàng năm: 23,5 độ C, trong đó cao nhất là 2,7độ C (tháng 6) và nhiệt độ thấp nhất là 16,0 độ C (tháng 1).
- Độ ẩm trung bình trong năm là 84%, trong đó tháng cao nhất (tháng 3 và tháng 4), tháng thấp nhất là (tháng 12) là 80%. - Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.760mm, trong đó tập trung vào tháng 8 và tháng 9 hàng năm và thấp nhất vào tháng 12. - Tổng số giờ nắng trong năm: 1. Khí hậu có hai mùa rõ rệt, độ ẩm cao, mưa nhiều thuận lợi cho sự phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới và một số loại cây ôn đới chất lượng cao.
Các loại tài nguyên - Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt đất rất là phong phú, gồm có nước từ sông Đáy và sông Nhuệ. Hiện nay, nguồn nước từ sông Nhuệ đang bị ô nhiễm nặng nề, tác động xấu tới sản xuất và đời sống nhân dân ven sông. Nước ngầm chưa được thăm dò, đánh giá cụ thể, nhưng theo kết quả sợ bộ co thấy mực nước ngầm khoảng ở độ sâu 15 – 25 m, chất lượng tốt có thể khai thác và sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. - Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 18.2: Cơ cấu phân bố đất đai năm 2010 Ha % so với tổng số Tổng diện tích đất tự nhiên 18.
Đất nông nghiệp 11.819 64,33 + Đất sản xuất nông nghiệp 10. Đất phi nông nghiệp 6.505 35,67 - Đất chuyên dùng 4.484 8,08 (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ứng Hòa năm 2010) 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời gian qua, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm tương đối nhanh, từ 12. Đất chuyên dùng và đất ở đang có xu hướng gia tăng mạnh từ 4.487 ha năm 2005 tăng lên 5. Chuyển biến trên xuất phát từ thực tế yêu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, xây dựng các trục đường giao thông lớn, nhu cầu mở rộng đô thị và các khu, cụm, điểm công nghiệp trong tương lai đòi hỏi phải có quỹ đất khá lớn, trong đó chủ yếu sẽ phải chuyển từ đất nông nghiệp sang sử dụng xây dựng cơ sở hạ tầng và dân sinh.
Hầu hết toàn bộ diện tích đất của huyện đã được sử dụng vào các mục đích kinh tế, dân sinh. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp, chỉ khoảng 650m2/người và 1.296m2/lao động nông nghiệp. Hệ số sử dụng đất nông nghiệp của huyện Ứng Hòa tương đối cao là 2,3 lần, khó có thể nâng lên cao hơn nữa và hầu hết diện tích đất huyện Ứng Hòa được tạo thành từ nguồn phù sa sông Hồng, có độ phì nhiêu cao, thích hợp và tốt cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực, rau, đậu thực phẩm và cây ăn quả. - Khoáng sản: Trên lãnh thổ của huyện chưa phát hiện loại tài nguyên khoáng sản nào có trữ lượng lớn, đáng kể.
Chủ yếu có một số loại: + Than bùn: có ở các xã vùng trũng khu Cháy (trên địa bàn các xã Trung Tú, Đồng Tân, Hòa Lâm, Trầm Lộng, Minh Đức, Kim Điền, Đông Lỗ và Đại Hùng) có than bùn với trữ lượng chưa xác định, đó là nguồn nguyên liệu làm phân hữu cơ vi sinh rất tốt cho trồng trọt. + Cát: hiện đang khai thác ở các xã dọc sông Đáy, từ Viên An đến Hồng Quang, bao gồm Viên An, Tân Phương, Hòa Nam và Hòa Phú phục vụ cho xây dựng cơ bản trong huyện. Điều kiện kinh tế - xã hội Điều kiện kinh tế Nông nghiệp là ngành kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế huyện với tỷ trọng 44,3% (năm 2011). Sản xuất nông nghiệp phát triển 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tương đối ổn định, có sự chuyển biến quan trọng về cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn.
Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2011 (theo giá cố định năm 1994) đạt 849 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 396 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 489 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân/năm là 5,3%/năm, trong đó tốc độ tăng của ngành chăn nuôi là 6,8%/ năm, ngành trồng trọt là 3,4%/năm. Ứng Hòa đã tập trung chỉ đạo nhân rộng các mô hình nông nghiệp giá trị kinh tế cao nhằm phát huy tối đa hiệu quả giá trị sử dụng đất ở địa phương. Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, theo các mô hình chuyên canh, đa canh, nuôi thủy sản (lúa + cá + vịt).
Năm 2009 tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện duy trì khoảng gần 900. Đi đôi với việc đồn điền đổi thửa đã tạo điều kiện hình thành các trang trại sản suất đa dạng, đa canh kết hợp. Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển (toàn huyện có 127 trang trại – vườn trại với diện tích 298 ha). Đặc biệt, để thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, huyện đã quy hoạch 12 điểm với 635 ha diện tích trồng rau an toàn tập trung tại các xã ven sông Đáy.
Cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm, một mũi nhọn khác của huyện là nuôi trồng thủy sản. Phát huy lợi thế của một huyện có vùng trũng thuận lợi cho sự phát triển ngư nghiệp.