Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất các chƣơng trình tƣ vấn sức khỏe trên truyền hình. Chương 2: Thực trạng sản xuất các chƣơng trình tƣ vấn sức khỏe trên truyền hình. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất chƣơng trình tƣ vấn sức khỏe trên truyền hình. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT CÁC CHƢƠNG TRÌNH TƢ VẤN SỨC KHỎE TRÊN TRUYỀN HÌNH 1.
Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm truyền hình Truyền hình đã trở thành phƣơng tiện truyền thông đại chúng, là kênh tiếp nhận các tin tức quen thuộc trong mỗi gia đình. Theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, những chiếc tivi ngày càng đƣợc thiết kế mỏng đi, kích thƣớc tăng lên, nhiều tính năng mới, trong đó có cả công nghệ truy cập vào mạng internet và màn hình nhỏ gọn (xem truyền hình ngay trên những thiết bị thông minh nhƣ điện thoại hay máy tính bảng); chính những điều này đã giúp không gian trái đất nhƣ đƣợc thu nhỏ trong một màn hình phẳng,gói gọn hàng triệu, hàng tỷ thông tin khác nhau. Nói về khái niệm truyền hình, có nhiều quan niệm khác nhau đã đƣợc chỉ ra nhƣ: - Khái niệm ghép từ: Truyền hình trong tiếng Anh nghĩa là “Television”.
Tuy nhiên, đây không phải là từ gốc tiếng Anh mà là một từ đƣợc ghép từ tiếng Latin. Từ này bao gồm hai thành tố là “tele”và “videre”. Trong đó: “tele” nghĩa là “xa” còn “videre” nghĩa là “nhìn”. Tổng hợp lại, từ “truyền hình” nguyên thủy nhất có nghĩa là “nhìn từ xa”.
Từ gốc này đƣợc phiên âm sang tiếng Anh thành “television” và đƣợc sử dụng phổ biến cho tới ngày nay. Đây cũng là mong muốn của con ngƣời trong việc đƣợc khám phá thế giới, tiếp nhận thêm càng nhiều thông tin để tiếp tục phát triển.Trong tiếng Việt, “Truyền hình” là từ ghép của “truyền” và “hình”. Trong đó, “truyền” mang ý nghĩa là truyền dẫn, truyền tải; còn “hình” nghĩa là hình ảnh. Hiểu đơn giản, “truyền hình” trong Tiếng Việt vừa có ý nghĩa kỹ thuật và truyền tải các hình ảnh, vừa mang ý nghĩa nội dung là truyền tải thông điệp 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khái niệm “Truyền hình” theo kỹ thuật.
Xét từ phƣơng diện kỹ thuật: Truyền hình là một quá trình liên tục biến đổi từ năng lƣợng ánh sáng, tác động qua ống kính của thiết bị thu hình trở thành năng lƣợng điện. Nguồn tín hiệu điện tử này đƣợc phát sóng, truyền dẫn tới các máy thu hình, thiết bị thu hình và hiển thị lại thành năng lƣợng ánh sáng, tác động vào thị giác. Ngƣời xem sẽ nhận đƣợc những tín hiệu này, mã hóa thành hình ảnh thông qua các màn hình tivi.Xét từ phƣơng diện thiết bị: Truyền hình (tivi) hay còn đƣợc gọi là vô tuyến truyền hình, máy thu hình, máy phát hình, tivi. là hệ thống điện tử viễn thông có khả năng thu nhận sóng và tín hiệu để chuyển thành hình ảnh, âm thanh tới ngƣời xem.
Ngày nay, không chỉ những chiếc tivi có đƣợc công dụng này, những thiết bị thông minh nhỏ nhƣ: laptop, máy tính bảng, điện thoại di động. cũng đều có chức năng và công dụng nhƣ một chiếc tivi thật sự. - Khái niệm “Truyền hình” từ phƣơng diện nội dung. Nếu xét về nội dung, truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệp đƣợc gửi tới ngƣời xem trong một không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh.
Từ đó, ngƣời xem dễ dàng tiếp nhận nội dung thông điệp hơn bởi có hình ảnh và âm thanh cực kỳ sống động, dễ nhớ.Chương trình truyền hình Trƣớc đây, khái niệm “chƣơng trình truyền hình” vẫn thƣờng đƣợc hiểu theo nghĩa là những nội dung thông tin đƣợc Đài truyền hình tổ chức sản xuất ổn định theo một chu kỳ thời gian. Khái niệm chƣơng trình truyền hình cũng đƣợc xem xét trên rất nhiều phƣơng diện nhƣ: - Chƣơng trình có thể là tổng thể những nội dung phát của một Đài Truyền hình, một kênh, một chuyên mục trong một chu kỳ thời gian cố định: ngày, giờ, tuần, tháng, năm. - Chƣơng trình cũng có thể là một bộ phận nhỏ đƣợc sản xuất độc lập.Từ đó, những chƣơng trình nhỏ này sẽ đƣợc đƣa vào bộ phận phát sóng 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung của Đài Truyền hình. Ví dụ: “Chƣơng trình chào buổi sáng”, “Chƣơng trình phim truyện 21 giờ”.
Với một chƣơng trình truyền hình, quan trọng nhất chính là đảm bảo “tính định kỳ”. Thông tin cần diễn ra liên tục, đảm bảo nhịp chảy của chuỗi sự kiện, chuỗi chƣơng trình, cập nhật và bổ sung đầy đủ nhữg sự kiện mà công chúng quan tâm. Từ đó, công chúng sẽ ghi nhớ mốc thời gian phát sóng của chƣơng trình và chờ đợi để đƣợc theo dõi. Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, tính “định kỳ” của chƣơng trình cũng đã dần giảm bớt sự hạn chế.
Ngƣời xem có thế chủ động hơn trong việc theo dõi chƣơng trình thông qua các thiết bị thông minh hoặc qua mạng internet. Căn cứ từ quy định của Mục 1, phần 1, Thông tƣ 03/2018/TT-BTTTT về “Định mức Kinh tế - kỹ thuật về sản xuất chương trình Truyền hình” do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành đã chỉ ra: Chƣơng trình truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo hình theo một chủ đề trong một thời lƣợng nhất định, có dấu hiệu nhận biết mở đầu hoặc chuẩn bị kết thúc. Sản xuất chương trình truyền hình Từ khái niệm “chƣơng trình truyền hình”, ta có thể hiểu “sản xuất chƣơng trình truyền hình” chính là quá trình hình thành một chƣơng trình truyền hình. Trong đó, quá trình này thƣờng bao gồm khác nhiều các công đoạn nhƣ: Tìm đề tài, lên ý tƣởng; Duyệt kịch bản; Điều độ sản xuất; Sản xuất tiền kỳ; Sản xuất hậu kỳ; Duyệt, kiểm tra nội dung; Phát sóng.
Đối với nhiều chƣơng trình truyền hình, cuối cùng còn một công đoạn là thu thập phản hồi, đánh giá từ phía công chúng để tiếp tục cải tiến, thay đổi nội dung cho những chƣơng trình kế tiếp. Một số chƣơng trình còn đƣợc quảng bá trên mạng xã hội để tăng tƣơng tác và độ tiếp cận đến với công chúng. Trong quá trình sản xuất chƣơng trình truyền hình, từ khâu lên ý tƣởng đến khi phát sóng và thu thập phản hồi đều phải dựa vào những lý thuyết truyền thông cụ thể. Có nhƣ vậy mới sản xuất đƣợc những chƣơng trình truyền hình đạt chất lƣợng và thu hút công chúng.
Cụ thể trong luận văn này, 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác giả xin đƣợc đề cập hai lý thuyết truyền thông cơ bản có liên quan và ảnh hƣởng nhiều nhất đến quá trình sản xuất các chƣơng trình tƣ vấn sức khoẻ trên truyền hình. Đó là lý thuyết “Thiết lập chƣơng trình nghị sự” và lý thuyết “Ngƣời gác cổng”. - Lý thuyết “Thiết lập chƣơng trình nghị sự”: Thuyết thiết lập chƣơng trình nghị sự cho rằng các cơ quan báo chí và truyền thông căn cứ vào môi trƣờng thông tin thực tế và mục đích để lựa chọn ra các vấn đề và nội dung mà họ coi là quan trọng để cung cấp cho công chúng chứ không phải là cung cấp các thông tin mà công chúng cần. Lý thuyết này đƣợc đƣa ra bởi hai nhà nghiên cứu Maxwell McCombs và Donald Shaw vào năm 1972, dựa trên những số liệu và kết quả của cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1968 giữa hai ứng cử viên Richard Nixon và Hurbert Humphrey.
Thiết lập chƣơng trình nghị sự chính là sản phẩm từ nhận thức của công chúng và sự quan tâm của những vấn đề nổi bật đƣợc đƣa ra bởi các hãng truyền thông. Hai giả thiết cơ bản nằm trong mỗi nghiên cứu về thiết lập chƣơng trình nghị sự đó là: (1)Các cơ quan báo chí và nền truyền thông không phản ánh hiện thực; họ chọn lọc và định dạng nó; (2) Nền truyền thông tập trung vào một số ít các vấn đề và chủ đề khiến cho công chúng nhận thức rằng các vấn đề đó quan trọng hơn các vấn đề khác. Một trong các khía cạnh quan trọng nhất trong khái niệm về vai trò của thiết lập chƣơng trình nghị sự trong nền truyền thông đại chúng chính là khung thời gian cho hiện tƣợng này. Thêm vào đó, các loại hình truyền thông khác nhau sử dụng những khả năng thiết lập chƣơng trình nghị sự khác nhau.
Thuyết thiết lập chƣơng trình nghị sự thật sự khá phù hợp để giúp chúng ta hiểu đƣợc vai trò phổ biến của truyền thông.Cơ sở tâm lý cho vấn đề thu hút ý kiến dƣ luận chính là sự chú ý chọn lọc của cơ quan truyền thông. Mọi ngƣời thƣờng không và không thể quan tâm tới tất cả mọi việc. Hơn nữa, trong việc đƣa ra những phán xét, công chúng thƣờng sử dụng những quy tắc tƣợng trƣng và tƣơng đƣơng cùng những thể hiện trực quan. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công chúng cũng có xu hƣớng bị thu hút bởi những thông tin đặc biệt nổi bật và đặc tính của đối tƣợng đã bị tác động trong tâm trí của họ hơn là tham gia vào những đánh giá toàn diện về ý kiến, từ đó đƣa ra các đánh giá khi cần.
Đó chính là khi các chƣơng trình nghị sự đã bị định hình một cách đáng kể bởi các phƣơng tiện thông tin đại chúng. - Lý thuyết “Ngƣời gác cổng”: Lý thuyết “Ngƣời gác cổng” của nhà xã hội học Kurt Lewin năm 1947 chỉ ra rằng, trong hoạt động truyền thông, các nhóm luôn tồn tại một số “ngƣời gác cổng”, trong đó chỉ có những nội dung thông tin phù hợp với quy định của nhóm hoặc tiêu chuẩn giá trị của “ngƣời gác cổng” mới đƣợc đƣa vào kênh truyền thông. Từ lý thuyết “ngƣời gác cổng” đƣợc đề cập trong công trình trên đã giúp củng cố thêm lý thuyết nền tảng về vai trò “gác cổng” của biên tập viên trong môi trƣờng truyền thông hiện nay.Hoạt động “gác cổng” của cơ quan truyền thông trƣớc hết thể hiện ở sự phán đoán trực tiếp “giá trị thông tin” từ các đầu mối thông tin. Tiêu chí xác định giá trị thông tin thể hiện trên hai phƣơng diện: nghiệp vụ và thị trƣờng.
Trong đó, tiêu chí về nghiệp vụ là chỉ sự kiện phù hợp với các điều kiện để cơ quan truyền thông xử lý thông tin, còn tiêu chí thị trƣờng phải hội tụ đủ các điều kiện thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu thông tin của công chúng và thu hút đƣợc công chúng. Rốt cục, hoạt động “gác cổng” vẫn chịu sự ảnh hƣởng về mục đích, tôn chỉ, lập trƣờng, quan điểm và tiêu chuẩn giá trị của cơ quan báo chí truyền thông.